|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 63/2024/HSST Ngày 24 tháng 4 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Ngọc Toàn
Ông Trần Đức Lưu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy– Thư ký Tòa án của
Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với:
Bị cáo : Phạm Hoàng T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1970; Đăng ký HKTT và nơi ở: H Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Phạm Kinh M (đã chết); Họ và tên mẹ: Vũ Thị P (đã chết); Gia đình bị cáo có 12 anh em, bị cáo là con út; Tiền án, tiền sự: 05 tiền án đã được xoá án tích; 01 tiền sự đã được xóa:
Tiền án:
- - Bản án sơ thẩm số 68/HSST ngày 23/6/1989, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử phạt Phạm Hoàng T 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 06 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Buộc chấp hành hình phạt chung là 12 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/4/1990. Xác minh thi hành án: Cơ quan thi hành án không lưu giữ hồ sơ Thi hành án phí và các khoản bồi thường dân sự của Phạm Hoàng T. Xác định đã xóa án tích.
- - Bản án sơ thẩm số 195HS/ST ngày 30/09/1991, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt Phạm Hoàng T 09 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Bản án phúc thẩm số 441/HSPT ngày 16/11/1991 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội Y bản án hình sự sơ thẩm số 195HS/ST ngày 30/09/1991. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 1/5/1992. Xác minh thi hành án: Tòa án nhân dân quận Ba Đình không tìm thấy hồ sơ thi hành án của Phạm Hoàng T nên không có căn cứ để trả lời kết quả thi hành án dân sự của Phạm Hoàng T. Xác định đã xóa án tích.
- - Bản án sơ thẩm số 1134/HSST ngày 27/9/2000, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Hoàng T 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bản án phúc thẩm số 18 ngày 15/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao Y bản án hình sự sơ thẩm số 1134/HSST ngày 27/9/2000. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/2/2007. Xác minh thi hành án: Phạm Hoàng T đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai số 56 ngày 21/4/2008. Án phí hình sự phúc thẩm được đình chỉ ngày 7/6/2013. Đối với hình phạt phụ là phạt tiền, bị án được đình chỉ ngày 21/8/2013. Xác định đã xóa án tích.
- - Bản án sơ thẩm số 88/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt Phạm Hoàng T 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày: 14/7/2011. Xác minh thi hành án: Phạm Hoàng T đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai 087 ngày 16/9/2009. Xác định đã xóa án tích.
- - Bản án sơ thẩm số 52/2017/HSST ngày 28/03/2017 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt Phạm Hoàng T 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2018. Xác minh thi hành án: Phạm Hoàng T đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai số 3487 ngày 24/01/2019. Xác định đã xóa án tích
Tiền sự: Ngày 1/7/2022, Công an phường T, H, Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Phạm Hoàng T đã nộp phạt số tiền 3.500.000 đồng (BL: 62). Xác định tiền sự đã xóa.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2023. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 21/12/2023, tại đầu ngõ S Quán T, phường Q, B, Hà Nội, tổ công tác công an phường Q đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với 01 (một) người đàn ông là Phạm Hoàng T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Trong quá trình kiểm tra, tổ công tác công an phường Q phát hiện 01 (một) gói giấy bạc, bên trong chưa chất bột màu trắng trong túi quần phía trước bên của T đang mặc.
Phạm Hoàng T khai là ma túy heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa T về trụ sở Công an phường Q để làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Hoàng T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên vào khoảng 14h ngày 21/12/2023, T đi bộ từ nhà ở H Quán T, B, Hà Nội đến khu vực dốc T để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đầu ngõ G T, phường P, B, Hà Nội, T có gặp một người đàn ông (không quen biết tên, tuổi, địa chỉ) và mua của anh ta 01 gói ma túy loại Heroin hết 200.000 đồng. Mua xong, T đi bộ về nhà để sử dụng. Khoảng 15h cùng ngày, khi T đang đi về đến đầu ngõ H Quán T, B, Hà Nội thì bị Tổ công tác của công an phường Q kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng như nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Hoàng T đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, hiện trường vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
* Vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Phạm Hoàng T: 01 (một) gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng.
Theo Bản kết luận giám định số 8637/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: “ Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,116 gam."
Quá trình giám định Cơ quan giám định thu 0,025 gam chất ma túy loại Heroin làm mẫu, còn lại 0,091 gam chất ma túy loại Heroin hoàn lại cho Cơ quan điều tra.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho Phạm Hoàng T: Quá trình điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, do đó không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSBĐ ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Phạm Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng, sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T mức án từ 18 đến 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,091 gam ma túy loại Heroin (khối lượng ban đầu 0,116 gam, cơ quan giám định thu giữ 0,025 gam còn lại 0,091 gam ma túy Heroin).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của Phòng K công an thành phố H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 21/12/2023, tại đầu ngõ S Quán T, phường Q, B, Hà Nội, bị cáo Phạm Hoàng T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,116 gam chất ma túy loại heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an phường Q bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi của bị cáo là hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng T đã cấu thành tội « Tàng trữ trái phép chất ma túy» theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
-
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy là vấn nạn nhức nhối trong xã hội bởi những tác hại rất lớn mà ma túy gây ra cho sức khỏe con người, ma túy cũng là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
-
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có 05 tiền án, 01 tiền sự mặc dù đều đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo đã được các cơ quan pháp luật giáo dục nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, cải tạo mà với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo lại tiếp tục phạm tội. HĐXX nhận thấy bị cáo chưa cải tạo được mình và chưa cai nghiện được để thành người có ích cho xã hội. Do đó, HĐXX cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo.
- - Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
-
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
-
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy một bao niêm phong bên trong gồm: 0,091 gam ma túy loại Heroin (khối lượng ban đầu 0,116 gam cơ quan giám định thu giữ 0,025 gam còn lại 0,091 gam ma túy Heroin) đã qua giám định.
-
Về các vấn đề khác: Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình về điều luật áp dụng và tội danh là có căn cứ. Về mức hình phạt, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
-
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong bên trong chứa 0,091 gam ma túy loại Heroin (khối lượng ban đầu 0,116 gam cơ quan giám định thu giữ 0,025 gam còn lại 0,091 gam ma túy Heroin) đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên, cán bộ công an phường và các đương sự.
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 110 ngày 04/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Sen |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Dương Thị Sen
Bản án số 63/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy Phạm Hoàng T
