|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 23 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thế Kỳ.
- Ông Nguyễn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Duy P, sinh 2000 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Thôn 2, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc P (đã chết) và con bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự Pc thẩm số: 24/2021/HS-PT ngày 28/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2022 nhưng chưa nộp án phí và chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, đang tạm giam; có mặt.
2. Vũ Phi H, sinh năm 1996 tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon J, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và con bà Đỗ Thị P; chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2020/HS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2022 (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2015/HSST ngày 02/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp xử phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2016 và đã nộp án phí (đã được xóa án tích); ngày 01/9/2018, bị Công an huyện Tuy Đức ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Tuy nhiên, do bị cáo không có mặt tại địa phương nên Công an huyện Tuy Đức không giao được quyết định xử phạt, đến nay quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay, đang tạm giam; có mặt.
- Bị hại: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; vắng mặt.
+ Người làm chứng:
Chị Thị L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Anh Ngô Văn L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Bon S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Anh Huỳnh Bá Q, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
Chị Trần Thị Thúy H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2023, anh Phan Thanh T và chị Thị L quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau. Đến cuối tháng 11/2023, do chị L không có điện thoại để sử dụng nên anh T cho chị L mượn 01 chiếc điện thoại di động để làm phương tiện liên lạc. Sau đó, anh T và chị L chia tay nhưng chị L chưa trả lại điện thoại cho anh Tiến.
Sau khi chia tay anh Tiến, chị L quen biết và có quan hệ tình cảm với Nguyễn Duy P. Khoảng 21 giờ 00 Pt ngày 29/11/2023, P điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 93L1-497.16 (mượn của anh Nguyễn Văn P đến nhà nghỉ Bình Minh thuộc xã Đắk Ru, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông để chở chị L đi ăn tối. Khi đến trước cổng nhà nghỉ Bình Minh, P gặp bạn là Vũ Phi H đang đứng ở đây nên P rủ H cùng đi ăn tối. Sau đó, H điều khiển xe chở P và chị L đến tiệm hủ tiếu của anh Ngô Văn L tại bon Sê Rê 1, xã Đắk Ru, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông để ăn tối.
Trong lúc P, H và chị L đang ngồi chờ anh L1 làm đồ ăn thì anh T điều khiển xe mô tô đến để mua hủ tiếu mang về. Khi thấy chị L ngồi cùng P và H, anh T yêu cầu chị L trả lại chiếc điện thoại mà chị L đã mượn của P trước đó. Chị L nói với anh T là điện thoại để ở trong nhà nghỉ Bình Minh, không mang theo. Nghe vậy, anh T yêu cầu chị L về nhà nghỉ lấy điện thoại để trả. Chị L nói: “Tí nữa về em lấy em trả lại cho anh”. Anh T không đồng ý mà hét to: “Đưa cái điện thoại đây”. Thấy anh T to tiếng với chị Lệ, nên P nói với anh Tiến: “Mày thích to tiếng ở đây không?”, anh T cũng to tiếng chửi lại P. Sau đó, P đứng dậy đi đến vị trí xe hủ tiếu của anh Lân cầm lấy 01 cây gỗ đang được anh Lân dùng làm củi nấu hủ tiếu đi đến vị trí anh T đang đứng. H thấy P cầm cây củi đi đến chỗ anh T nên cũng đứng dậy, đi đến vị trí xe hủ tiếu của anh Lân cầm lấy 01 cây củi đang cháy đi theo sau P. Khi đến trước mặt anh Tiến, P và H dùng cây củi đánh nhiều cái vào vùng đầu, vai và tay của anh T làm anh T bị ngã xuống nền xi măng gần xe hủ tiếu. Lúc này, P và H tiếp tục dùng cây củi đánh tiếp nhiều cái vào đầu và người anh T làm chiếc mũ bảo hiểm đang đội trên đầu anh T bị bể thành nhiều mảnh. Thấy vậy, chị L và anh Lân vào can ngăn nên P và H dừng lại. P và H vứt 02 cây củi vào gần xe hủ tiếu rồi lên xe mô chuẩn bị bỏ đi thì anh T đứng dậy, cầm con dao thái thịt để trên xe hủ tiếu của anh Lân đuổi theo để chém P. P liền bỏ chạy về hướng Bình Phước nên anh T không chém được. Thấy vậy, H tiếp tục cầm 02 cây củi mà H và P đã đánh anh T trước đó đuổi theo anh T để ngăn anh T đánh P nhưng không đuổi kịp nên H vứt lại 02 cây củi bên lề đường. Sau đó, H quay lại tiệm hủ tiếu lấy xe mô tô rồi chở P và chị L đi về, còn anh T quay lại trả con dao cho anh Lân rồi được người dân xung quanh đưa đi cấp cứu.
Kết luận giám định số 35/KLTTCT-TTPY ngày 29/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận thương tích của Phan Thanh T như sau:
1. Các kết quả chính:
- Gãy xương chính mũi, không ảnh hưởng đến chức năng thở, tỷ lệ 08%.
- Gãy 1/3 dưới xương trụ tay phải, can liền tốt, trục thẳng, chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng, tỷ lệ 08%.
- 01 sẹo nằm dọc sống mũi giữa hai cung mày, kích thước nhỏ, tỷ lệ 03% (sẹo vùng mặt).
- 01 vết thương mỏm khuỷu tay phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- Kết luận khác: Không.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phan Thanh T tại thời điểm giám định là: 19% (mười chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư này.
- Kết luận khác: Các tổn thương của anh Phan Thanh T do vật tày hoặc vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKS-ĐL ngày 12 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp đã truy tố các bị cáo Nguyễn Duy P, Vũ Phi H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P, Vũ Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù; xử phạt bị cáo Vũ Phi H từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù.
Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 02 khúc cây gỗ tròn và 01 mũ bảo hiểm đã bị bể không còn giá trị sử dụng nên đề nghị cần tịch thu, tiêu hủy.
Đề nghị chấp nhận ngày 24/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 con dao dài 31,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại cho chủ sở hữu là anh Ngô Văn L.
Đề nghị chấp nhận ngày 06/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, biển kiểm soát 93L1-497.16 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T.
Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H đã bồi thường thiệt hại về cho bị hại là anh Phan Thanh T số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, các bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại anh Phan Thanh T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn P, người làm chứng là chị Thị L, anh Ngô Văn L, anh Huỳnh Bá Q và chị Trần Thị Thúy H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T, anh T, anh P, chị L, anh L1, anh Q và chị H theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cở sở xác định:
Khoảng 21 giờ 00 Pt ngày 29/11/2023, Nguyễn Duy P rủ Vũ Phi H và bạn gái là chị Thị L đến ăn tối tại tiệm hủ tiếu của anh Ngô Văn L thuộc bon S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Trong lúc P, H và chị L đang chờ anh Lân làm đồ ăn thì anh Phan Thanh T cũng đến để mua hủ tiếu mang về. Khi thấy chị L, anh T yêu cầu chị L trả lại chiếc điện thoại mà chị L đã mượn anh T trước đó. Do chị L không mang theo điện thoại nên anh T đã to tiếng yêu cầu chị L về lấy điện thoại để trả. Lúc này, P lên tiếng bênh vực cho chị L thì xảy ra mâu thuẫn và tranh cãi to tiếng với anh Tiến. Sau đó, P cầm cây củi (đang được anh L1 dùng để nấu hủ tiếu) đi đến trước mặt anh T. Thấy vậy, H cũng cầm cây củi đang nấu hủ tiếu rồi đi theo phía sau để giúp sức cho P. Sau đó, P và H đã dùng cây củi là hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào vùng đầu, mặt và tay của anh T làm anh T bị thương tích 19%. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
...”
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có nhân thân xấu nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà còn tiếp tục phạm tội.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Duy P có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”; Vũ Phi H có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đều chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; được bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo H có bà ngoại là bà Nguyễn Thị Gọt là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[7] Về nhân thân: Bị cáo Vũ Phi H có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2015/HSST ngày 02/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp xử phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 143 của Bộ luật Hình sự năm 1999; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2016 và đã nộp án phí (đã được xóa án tích); ngày 01/9/2018 bị Công an huyện Tuy Đức ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Tuy nhiên, do bị cáo không có mặt tại địa phương nên Công an huyện Tuy Đức không giao được quyết định xử phạt, đến nay quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã hết thời hiệu thi hành.
[8] Việc bồi thường thiệt hại: Các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H đã bồi thường cho bị hại anh Phan Thanh T số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Xét thấy, việc thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, nên cần chấp nhận. Sau khi nhận số tiền trên, anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9] Căn cứ vào vai trò tham gia, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội có vai trò ngang nhau. Do đó, cần xử phạt bị cáo P mức hình phạt bằng với bị cáo H, đồng thời cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, ngăn ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[10] Việc xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 02 khúc cây gỗ tròn và 01 mũ bảo hiểm đã bị bể không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Chấp nhận ngày 24/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 con dao dài 31,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại cho chủ sở hữu là anh Ngô Văn L.
Chấp nhận ngày 06/02/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, biển kiểm soát 93L1-497.16 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T.
[11] Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp là có căn cứ nên chấp nhận.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy P, Vũ Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/01/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Phi H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024.
2. Việc bồi thường thiệt hại: Chấp nhận việc các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H đã bồi thường cho bị hại anh Phan Thanh T số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Sau khi nhận tiền bồi thường bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
3. Việc xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2; các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 02 khúc cây gỗ tròn và 01 mũ bảo hiểm.
Chấp nhận ngày 24/6/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 con dao dài 31,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại cho chủ sở hữu là anh Ngô Văn L.
Chấp nhận ngày 06/02/2024 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Sonic, biển kiểm soát 93L1-497.16 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T.
(Các vật chứng có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R'Lấp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Duy P và Vũ Phi H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến phần quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Xuân Diệu |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P và Vũ Phi H phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự
