Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1987, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ 25, khóm C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1945; Vợ tên: Lê Nguyễn Phi Y, sinh năm: 1989; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 17/01/2023, Nguyễn Hữu Đ bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định số 04/2023/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng, chấp hành xong ngày 23/11/2023.

Nhân thân: Ngày 28/5/2020, Nguyễn Hữu Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 01 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý tại Bản án hình sự số 34/2020/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/5/2021.

Tạm giữ: Ngày 04/3/2024; Tạm giam ngày 07/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Phan Thị Á, sinh năm 1965 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Số A, đường T, tổ C, khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  1. Lê Nguyễn Phi Y, sinh năm 1989 (có mặt).
  2. Nơi cư trú: Tổ 25, khóm C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Nguyễn Vũ P, sinh năm 1989 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Lê Văn Vinh E, sinh năm 1993 (vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: Tổ 6, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/3/2024, Nguyễn Hữu Đ một mình điều khiển xe mô tô hiệu VEMVIPI, biển kiểm soát 66P1-953.57 lưu thông trên đường T hướng từ xã M đến phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Khi Đ điều khiển xe nói trên đến trước cổng nhà số A đường T thuộc tổ C, khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Đ phát hiện có 01 túi xách treo trên xe mô tô nhãn hiệu honda Dream, biển kiểm soát 66F4-2960 đang đậu bên lề đường của bà Phan Thị Á không có người trông coi, quản lý tài sản nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm túi xách này bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đ quay đầu xe chạy lại vị trí đậu xe mô tô của bà Á dùng tay phải lén lút lấy trộm túi xách đeo lên người rồi nhanh chóng điều khiển xe chạy về nhà. Đ kiểm tra bên trong túi xách vừa trộm được có 01 điện thoại di động loại SAMSUNG A13, màu xanh; 01 điện thoại di động loại NOKIA 216, màu đen và tiền Việt Nam 7.500.000 đồng. Đ đã lấy 1.400.000 đồng từ số tiền vừa trộm được tiêu xài cá nhân hết, số tiền còn lại vẫn để trong túi xách. Khoảng 16 giờ cùng ngày, phát hiện tài sản của mình bị mất trộm nên bà Á đã đến Công an P2 trình báo vụ việc.

Đến 16 giờ 40 phút cùng ngày, Đ đến Công an P2 đầu thú, tự nguyện giao nộp tang vật và phương tiện cho cơ quan Công an tạm giữ gồm: 01 túi xách màu nâu, trên túi xách có dòng chữ JKDN; 01 điện thoại di động loại SAMSUNG A13, màu xanh; 01 điện thoại di động loại NOKIA 216, màu đen; số tiền còn lại trong túi xách là 6.100.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu VEMVIPI, biển kiểm soát 66P1-953.57. Ngày 05/3/2024, Công an P2 chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 309 ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản cấp huyện kết luận: 01 điện thoại di động loại NOKIA 216, màu đen; 01 điện thoại di động loại SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh; 01 túi xách nữ, có dây đeo màu nâu, trên túi xách có dòng chữ JKDN, đã sử dụng, với tổng giá trị là: 1.286.666 đồng. Sau khi định giá xong, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản nêu trên và số tiền là 6.100.000 đồng cho bị hại bà Phan Thị Ánh . Ngày 13/5/2024 bà Phan Thị Á có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bồi thường số tiền 1.400.000 đồng Đ đã tiêu xài.

Đối với xe mô tô hiệu VEMVIPI, biển kiểm soát 66P1-953.57 là của anh Lê Vũ P1, khoảng tháng 12/2023 thấy chị Lê Nguyễn Phi Y (là vợ Đ) không có xe đi lại nên anh P1 cho chị Y mượn xe để sử dụng. Việc Đ sử dụng xe mô tô nói trên để làm phương tiện phạm tội anh P1 và chị Y hoàn toàn không biết. Hiện tài sản đã trả lại xe cho anh P1.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hữu Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; vật chứng thu giữ; biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng; bản ảnh vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS-TPCL ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo, lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; vật chứng thu giữ; biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại; lời khai của người làm chứng; bản ảnh vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Ngày 04 tháng 3 năm 2024, do cần tiền tiêu xài nên bị cáo lấy xe mô tô hiệu VEMVIPI đi tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 04/3/2024, tại nhà số A, đường T, tổ C, khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Nguyễn Hữu Đ thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 túi xách có dây đeo màu nâu, bên trong có số tiền là 7.500.000 đồng, 01 điện thoại Samsung A13, màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216 màu đen của bà Phan Thị Ánh . Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.786.666 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Tại phiên tòa bị cáo còn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, bị xử phạt tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Đáng lẽ ra khi bị xét xử và trả giá bằng bản án trước đây, bị cáo phải biết cải sửa bản thân, sống tốt hơn cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ....”.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, và cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; tự nguyện giao nộp tài sản để khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại: 01 điện thoại di động loại NOKIA 216, màu đen; 01 điện thoại di động loại SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh; 01 túi xách nữ, có dây đeo màu nâu, trên túi xách có dòng chữ JKDN, đã qua sử dụng; số tiền là 6.100.00 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.400.000 đồng và không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng:

  • Đối với: 01 (một) điện thoại di động loại NOKIA 216, màu đen; 01 (một) điện thoại di động loại SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh; 01 (một) túi xách nữ, có dây đeo màu nâu, trên túi xách có dòng chữ JKDN, đã sử dụng; Số tiền 6.100.000 đồng là tài sản của bà Phan Thị Ánh . Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Á, bà Á đã nhận lại tài sản xong, là phù hợp.
  • Đối với 01 xe mô tô hiệu VEMVIPI, biển kiểm soát 66P1-953.57 do anh Nguyễn Vũ P mua của anh Lê Văn V Em, chưa sang tên. Anh P cho chị Lê Nguyễn Phi Y (là vợ Đ) mượn xe mô tô sử dụng. Anh P, chị Y không biết bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh P, anh P đã nhận lại tài sản xong, là phù hợp.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 3 năm 2024.

  3. Về vật chứng: Đã xử lý xong.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • VKSND TPCL;
  • VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • CQĐT Công an TPCL;
  • CQTHAHS Công an TPCL;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger