Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/DS-PT

Ngày: 23/5/2024

V/v: “Tranh chấp HĐCNQSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Ninh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình

Ông Đỗ Thế Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quang Duy - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 91/2024/TLPT- DS, ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2023/DS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 84/2024/QĐ-PT ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983; (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Luật sư Nguyễn Chí D, sinh năm 1976, Công ty L – Đoàn Luật sư tỉnh B; (có mặt)
  • Địa chỉ: Số D đường L, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
  • Bị đơn: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1960; (vắng mặt)
  • Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960; (vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1984. (có mặt)
  • Địa chỉ: Khu C, Khu I, phường K, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Thế N, sinh năm 1983; (vắng mặt)
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của ông N: Luật sư Nguyễn Chí D, sinh năm 1976, Công ty L – Đoàn Luật sư tỉnh B;
  3. Địa chỉ: Số D đường L, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  4. Chị Phạm Thị S, sinh năm 1982; (vắng mặt)
  5. Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1985; (vắng mặt)
  6. Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1988; (vắng mặt)
  7. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1994; (vắng mặt)
  8. Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  9. Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1991; (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  11. Người đại diện theo uỷ quyền của chị S, chị Đ, chị T, chị H, chị N: Ông Dương Văn H, sinh năm 1984. (có mặt)
  12. Địa chỉ: Khu C, Khu I, phường K, Thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
  13. Bà Trần Thị N2, sinh năm 1941; (vắng mặt)
  14. Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Theo nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thế N do đại diện là ông Nguyễn Chí D trình bày:

Ông Phạm Văn B và vợ là bà Nguyễn Thị C là người cùng làng với chị Nguyễn Thị T, vợ chồng ông B có thửa đất số 01, tờ bản đồ số TKKH, diện tích 379 m², địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã P huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/2000 mang tên hộ ông Phạm Văn B. Theo bản đồ năm 2003 là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633 m². Theo bản đồ năm 2014 hiện nay là thửa số đất số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410 m².

Do có nhu cầu về đất ở nên đầu tháng 10/2006 mẹ chị T có gặp và trao đổi với vợ chồng ông B về việc nhận chuyển nhượng một phần thửa đất trên cho chị T và thỏa thuận giá là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Ngày 23/10/2006, mẹ chị T và ông B ký giấy chuyển nhượng đất trong đó diện tích chuyển nhượng có tứ cận phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m. Khi ký Hợp đồng, có vợ chồng ông B, bà C và mẹ chị T, ngoài ra còn có bà Nguyễn Thị N3 là người cùng thôn vừa có họ cả hai bên ông B, chị T (bà C vợ ông B là em ruột chồng bà N, chị T phải gọi bà N là bác, vì bà N mẹ chị T với bà N là chị em con cô con bác ruột) làm chứng.

Sau khi thanh toán tiền Hợp đồng chuyển nhượng, vợ chồng ông B đo đạc và giao đất cho chị T sử dụng, lúc đó trên đất đã có tường rào vợ chồng ông B xây ở phía Đông thửa đất. Sau khi được giao đất, chị T cùng chồng đã xây nốt tường bao quanh, trồng trọt hoa màu và đóng tiền thuế sử dụng đất ở hàng năm từ đó đến nay. Về phía vợ chồng ông B, sau khi bàn giao đất cho chị T, ông B đã đến gặp chính quyền thôn Đ chuyển tên chủ sử dụng và người đóng thuế đất sang tên chị T, vì thế trong sổ sách, phiếu thu đều đã ghi nhận chị T là người nộp thuế cho thửa đất đã mua của vợ chồng ông B từ năm 2006 đến nay.

Năm 2008 chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Thế N.

Ngày 21/03/2012, để hợp pháp hóa thửa đất cho chị T, chị T và ông B đã viết lại Hợp đồng ký ngày 23/10/2006, chị T và ông B trực tiếp ký đến xin xác nhận của Trưởng thôn Đ và UBND xã P về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị T và vợ chồng ông B.

Đến nay, vợ chồng chị T có nhu cầu làm nhà trên đất, do thửa đất này chưa được cấp giấy CNQSD đất mang tên vợ chồng chị T, nên chị T đã đến gặp vợ chồng ông B để yêu cầu làm lại thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, vợ chồng ông B vẫn thừa nhận việc bán thửa đất trên cho chị T, nhưng không ký lại để làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định pháp luật.

Chị Nguyễn Thị T cho rằng việc chị T mua thửa đất của vợ chồng ông B là có thật, việc mua bán có người làm chứng và có xác nhận của chính quyền địa phương, thực tế chị T đã quản lý, sử dụng và đóng tiền thuế đất ở từ năm 2006 đến nay. Theo quy định pháp luật thì Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất giữa chị T và vợ chồng ông B là hợp pháp. Việc vợ chồng ông B không làm thủ tục chuyển nhượng là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị T2

Vì lý do nêu trên chị Nguyễn Thị T đã khởi kiện ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị C ra Tòa án nhân dân thị xã Q, đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề sau đây:

Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn Thị T và vợ chồng ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị C là có hiệu lực pháp luật, đối với một phần đất thuộc thửa đất theo bản đồ năm 2003 là thửa số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633 m 2, theo bản đồ năm 2014 hiện nay là thửa số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410 m 2 tại thôn Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có tứ cận phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m, diện tích chuyển nhượng hiện nay xác định được bao nhiêu m² thì lấy từng đó. Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì khác.

Theo bị đơn là ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị C do đại diện là anh Dương Văn H trình bày:

Vợ chồng ông B bà C có thửa đất đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/2000 mang tên hộ ông Phạm Văn B với diện tích 379 m², địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã P huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này theo bản đồ năm 2003 là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633 m². Nguồn gốc thửa đất này là do vợ chồng ông mua của địa phương khoảng năm 1995.

Năm 2006 vợ chồng ông B có thỏa thuận với bà N mẹ chị T về việc chuyển nhượng lại một phần diện tích thửa đất trên. Ngày 23/10/2006 tại nhà ông B, mẹ chị T và ông B có ký Giấy chuyển nhượng đất với nội dung ông B chuyển nhượng cho cô T diện tích đất với kích thước thửa đất là: phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m. Tại giấy chuyển nhượng này chỉ có ông B, bà N và bà N ký tên, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngoài nội dung thỏa thuận trên hai bên không có thỏa thuận gì thêm.

Khoảng tháng 12/2021 vợ chồng ông B có nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc chị T kiện vợ chồng ông B tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, kèm theo hồ sơ khởi kiện của chị T gửi cho Tòa án. Quan điểm của vợ chồng ông B như sau:

Thứ nhất: Ngày 23/10/2006 giữa ông B và chị T không ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Việc lập giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có chữ ký của ông B, bà N và bà N.

Thứ hai: Vợ chồng ông B không có bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến việc thanh toán số tiền là 40.000.000 đ (Bốn mươi triệu đồng) với chị T (tại giấy thỏa thuận không có đề cập nội dung này). Từ ngày ký giấy thỏa thuận này đến nay vợ chồng ông B cũng không nhận được bất kỳ một khoản tiền nào từ việc chuyển nhượng trên. Việc chị T trình bày vợ chồng ông B nhận 40.000.000 đồng là sai sự thật, không có căn cứ.

Thứ ba: Trong đơn chị T nói là xây tường bao mảnh đất, tuy nhiên việc này là không đúng, phần tường bao bằng gạch chỉ vợ chồng ông B xây từ trước năm 2000. Phần tường cay chị T xây là phần đất không phải của vợ chồng ông B.

Thứ tư: Theo quy định của pháp luật thì giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 23/10/2006 giữa ông B và bà N thiếu toàn bộ nội dung quy định về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Điều 698 của Bộ luật dân sự 2005 quy định về nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do vậy vợ chồng ông B đề nghị Tòa án giải quyết như sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo bà Trần Thị N2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Năm 2006 lúc đó chị T chưa lấy chồng, vẫn ở với tôi, nên tôi có nhu cầu mua đất cho chị T ở riêng sau này. Tôi có đi hỏi mọi người thì bà N là chị con ông bác tôi, đồng thời là chị dâu bà C vợ ông B có giới thiệu cho tôi mua đất của vợ chồng ông B. Sau đó tôi đã sang nói chuyện với vợ chồng ông B và tôi nhất trí mua đất của vợ chồng ông B có sự chứng kiến của bà N. Sau đó ông B là người trực tiếp viết giấy chuyển nhượng đất, chỉ ghi kích thước các cạnh của thửa đất chuyển nhượng, không ghi cụ thể diện tích là bao nhiêu (khoảng 01 sào = 360 m 2), giá mua bán là 40.000.000 đồng cũng không ghi vào giấy chuyển nhượng, tôi trực tiếp trả tiền cho ông B cầm, bà C có nhà và đều biết hết nhưng không ký vào giấy chuyển nhượng. Năm 2007 chị T xây nốt tường rào bằng cay xung quanh thửa đất như bây giờ. Năm 2012 để hợp pháp hóa thửa đất cho chị T nên tôi đã bảo chị T làm lại giấy chuyển nhượng đất ở trên để ông B và chị T ký lại rồi đi xin xác nhận của thôn và xã. Nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận giấy chuyển nhượng đất giữa ông B và chị T2 Ngoài ra không trình bày và yêu cầu gì khác.

Theo người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là các con ông B, bà C do anh Dương Văn H đại diện trình bày:

Thứ nhất: Các chị S, Đ, T, N, H khẳng định thửa đất đang tranh chấp có công sức đóng góp của tất cả mọi người trong gia đình.

Thứ hai: Các chị khẳng định không được chị Nguyễn Thị T trao đổi về việc mua bán phần đất trên, đến nay cũng chưa nhận được bất kỳ một khoản tiền nào về việc mua bán chuyển nhượng đất.

Thứ ba: Việc ông Phạm Văn B ký Giấy tờ mua bán ngày 23/10/2006 các chị không biết và cũng không được thông báo về nội dung này.

Thứ tư: Các chị S, Đ, T, N, H khẳng định chưa uỷ quyền cho ông Phạm Văn B được ký kết các hợp đồng mua bán chuyển nhượng đối với phần đất nêu trên.

Thứ năm: Các chị S, Đ, T, N, H không đồng ý thoả thuận với chị Nguyễn Thị T về việc mua bán thửa đất nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án các chị đề nghị được vắng mặt, không tham gia phiên họp, hòa giải và phiên tòa, ủy quyền toàn bộ cho anh Dương Văn H2

Về việc chị Nguyễn Thị T có canh tác trên thửa đất nêu trên các chị nghĩ là Bố mẹ các chị cho chị T mượn. Đồng thời việc chị T xây tường rào để bảo vệ đất trong quá trình canh tác nên các chị không phản đối.

Do đó đề nghị Tòa án tuyên không chấp nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký vào ngày 23/10/2006 mà bố các chị đã ký với chị T2

Từ những nội dung trên bản án sơ thẩm đã căn cứ vào các Điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 122, 124, 234, 688, 689, 691, 697, 702 Bộ luật dân sự 2005; các Điều 25,27,28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 106, 127, 146 Luật đất đai 2003và Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T4 Công nhận “Giấy chuyển nhượng đất” ngày 23/10/2006 giữa ông Phạm Văn B với chị Nguyễn Thị T có hiệu lực. Xác định diện tích chuyển nhượng hiện nay là 326,5 m 2 được giới hạn bởi các điểm (2-3-4-5'-8-2 ) trong sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án, theo bản đồ năm 2014 là nằm trong thửa đất ở số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410 m 2 tại thôn Đ, xã P, T Bắc Ninh.

Các đương sự có quyền đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để liên hệ làm thủ tục cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử về chi phí xem xét thẩm định, chi phí giám định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xử, ngày 18/12/2024, bị đơn là ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị C kháng cáo toàn bộ bản án đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn Thị T và vợ chồng ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị C, đối với một phần đất thuộc thửa đất theo bản đồ năm 2003 là thửa số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633m², theo bản đồ năm 2014 hiện nay là thửa số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410m² tại thôn Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có tứ cận phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm với nội dung hủy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 23/10/2006; nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị bác kháng cáo của bị đơn và công nhận quyền sử dụng đất theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/10/2006 và 21/3/2012.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị C nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng nên được xem xét giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Gia đình vợ chồng ông Phạm Văn B bà Nguyễn Thị C có thửa đất số 1, tờ bản đồ số TKKH, diện tích 379 m², địa chỉ thửa đất tại thôn Đ, xã P huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này đã được UBND huyện Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/12/2000 mang tên hộ ông Phạm Văn B. Theo bản đồ năm 2003 là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633 m². Theo bản đồ năm 2014 hiện nay gồm 02 thửa đất: Một là thửa số đất số 208, tờ bản đồ số 38, diện tích 361 m² hiện vợ chồng chị S con ông B đang quản lý sử dụng. Hai là thửa đất số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410 m² hiện chị T đang quản lý sử dụng.

Nguồn gốc thửa đất này theo ông B trình bày là do vợ chồng ông mua của địa phương khoảng năm 1995, điều này phù hợp với danh sách các chủ sử dụng đất kèm theo quyết định số 362/QĐ- UB ngày 11/12/2000 của UBND huyện Q về việc cấp GCNQSDĐ cho các hộ sử dụng đủ điều kiện tại thôn Đ, xã P, ở phần: Loại nguồn gốc sử dụng: Thôn cấp. Như vậy lúc vợ chồng ông B mua thửa đất này thì con gái đầu của vợ chồng ông B là chị S sinh năm 1982 mới 13 tuổi, các con ông B đều còn nhỏ nên không thể có công sức đóng góp tạo lập tài sản chung này. Ngoài ra theo sổ sách địa chính do UBND xã P cung cấp đối với thửa đất này, thì ở phần tên chủ sử dụng đất ghi: Hộ ông Phạm Văn B, tên vợ của chủ sử dụng đất là bà “Nguyễn Thị T”, không có tên các con ông B. Do đó xác định quyền sử dụng thửa đất này là của vợ chồng ông B bà C.

Ngày 23/10/2006 ông B có ký “Giấy chuyển nhượng đất ” cho chị T một phần diện tích thửa đất trên theo bản đồ năm 2003 là thửa đất số 116, tờ bản đồ số 38 cho bà Nguyễn Thị T, và có ghi các cạnh thửa đất như sau: phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m. Không ghi diện tích chuyển nhượng cụ thể là bao nhiêu m² . Quá trình giải quyết Tòa án có văn bản đề nghị Công ty cổ phần Đ1 xác định diện tích thửa đất chuyển nhượng là 352,5 m². Mặc dù vợ chồng ông B cho rằng chưa có việc chuyển nhượng phần đất này vì chưa nhận được tiền của chị T4 Nhưng người làm chứng là bà N là người có họ hàng gần với cả hai bên nhà ông B và chị T xác nhận có sự mua bán và giao nhận tiền giữa hai bên. Mặt khác, sau khi nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông B, chị T đã xây nốt tường rào xung quanh thửa đất để sử dụng từ đó đến nay. Theo xác minh tại địa phương thì chị T đã đã sử dụng thửa đất này ổn định, không có tranh chấp và đã đóng thuế đất ở đối với thửa đất này từ năm 2007 đến nay. Về ranh giới thửa đất ông B xác định phần đất bán cho chị T tính từ chân móng nhà chị S con ông B hất về phía Đông thửa đất. Ở cạnh phía Đông thửa đất khi bán cho chị T, ông B đã xây tường rào bằng gạch chỉ bổ T hiện vẫn còn, thể hiện trên sơ đồ thẩm định là đoạn 4-5. Sau đó chị T xây tiếp tường rào bằng cay ở phần phía Bắc thửa đất thể hiện trên sơ đồ thẩm định là đoạn 2-3-4 và một đoạn 5- 6 ở phía Đông thửa đất (nối tiếp đoạn tường 4-5 ông B xây trước). Đối với đoạn tường rào bằng gạch chỉ bổ trụ vợ chồng ông B xây trước khi bán đất cho chị T, các đương sự không có yêu cầu về tường gạch này nên HĐXX không xem xét giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn Thị T và vợ chồng ông Phạm Văn B, bà Nguyễn Thị C đối với một phần đất thuộc thửa đất theo bản đồ năm 2003 là thửa số 116, tờ bản đồ số 38, diện tích 633 m 2, theo bản đồ năm 2014 hiện nay là thửa số 210, tờ bản đồ số 38, diện tích 410 m 2 tại thôn Đ, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có tứ cận phía Nam: 15,8 m, phía Bắc: 14,9 m, phía Đông: 24 m, Phía Tây: 22 m. Bản án sơ thẩm đã xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi bản án sơ thẩm xử, bị đơn là ông B, bà C kháng cáo toàn bộ bản án. Xét kháng cáo của ông B, bà C Hội đồng xét xử thấy: ngày 23/10/2006 ông B ký “Giấy chuyển nhượng đất ” cho chị T thì thời điểm này các con của ông B bà C có chị S, chị Đ, chị T là đã thành niên đủ 18 tuổi, nhưng chị S đã đi lấy chồng từ năm 2001 và về nhà chồng ở cùng thôn. Còn chị H và chị N thì chưa đủ 18 tuổi. Từ đó đến nay các con ông B đều đã trưởng thành và lấy chồng hiện đều ở liền kề thửa đất của ông B đang ở, chị S thì được vợ chồng ông B cho thửa đất liền kề với thửa đất bán cho chị T, hiện vợ chồng chị S đã xây nhà kiên cố trên thửa đất này ở phần giáp ranh với thửa đất ông B bán cho chị T4 Chị N sau khi trưởng thành và đi lấy chồng hiện ở Hưng Yên nhưng vẫn thường xuyên về thăm bố mẹ ở Đ. Tóm lại bà C và các con ông B bà C đều biết việc ông B bán đất cho chị T và chị T đã xây nốt tường rào xung quanh đất để quản lý sử dụng thửa đất nhận chuyển nhượng của ông B từ đó đến nay là 17 năm, nhưng đều không có ý kiến phản đối hay tranh chấp. Điều này phù hợp với nội dung án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 là: “Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất”. Như vậy có căn cứ để xác định bà C và các con ông B bà C đương nhiên đồng ý với việc chuyển nhượng đất của ông B.

Mặc dù, tại thời điểm chuyển nhượng đất thửa đất số 116 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hết diện tích 633 m 2, nhưng theo biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất ngày 10/7/2003 do UBND xã P lập gồm Chủ tịch UBND xã, cán bộ địa chính xã và cán bộ đo đạc, ông B cũng đã ký xác nhận hiện trạng sử dụng thửa đất này. Phù hợp với nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật hiện hành. Cụ thể tại Điều 98 Luật đất đai 2013 là: Khoản 5. Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này.

Kết quả xác minh tại địa phương: Xác định diện tích tăng thêm đối với thửa đất số 1, tờ bản đồ số TKKH, diện tích 379 m² mà vợ chồng ông B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do vợ chồng ông B mua thêm của địa phương diện tích 106 m 2 về phía Đông thửa đất, giáp với suối chảy từ trên núi xuống, có giấy chứng nhận của UBND xã P. Sau đó vợ chồng ông B tân lấp thêm về phía suối để sử dụng. Hiện địa phương đã nắn dòng suối chảy đi chỗ khác, nên phần suối cũ bây giờ là lối đi (đường đất) giữa hai nhà ông B và ông V em ruột ông B. Năm 2000 khi thửa đất của ông B được cấp GCNQSDĐ có tứ cận: Phía Nam giáp đường làng, phía Đông giáp suối, phía Bắc và phía Tây giáp ruộng canh tác. Hiện nay ruộng canh tác đã được quy hoạch là đất ở, và các hộ liền kề đã được cấp GCNQSDĐ ở theo quyết định 1301/QĐ- UBND ngày 30/6/2014 của UBND huyện Q Như vậy xác định diện tích tăng thêm của thửa đất này của vợ chồng ông B thuộc diện được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vợ chồng ông B có quyền chuyển nhượng cho người khác.

Năm 2012 ông B và chị T đã ký lại hợp đồng chuyển nhượng phần đất này ghi rõ chủ đất cũ là ông Phạm Văn B, chủ đất mới là chị Nguyễn Thị T, sau đó xin xác nhận của trưởng thôn Đ lúc đó và UBND xã P chứng thực hợp đồng ngày 21/3/2012. Như vậy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông B và chị T đã được chứng thực. Chị T đã sử dụng phần đất mua của gia đình ông B ổn định, liên tục đến nay đã hơn 17 năm nhưng gia đình ông B không có ý kiến gì, không tranh chấp, quá trình sử dụng đất này chị T cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Theo quy định tại điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì có đủ điều kiện để Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn B với chị Nguyễn Thị T4

Đối với diện tích đất chuyển nhượng giữa vợ chồng ông B với chị T xác định theo giấy chuyển nhượng là 352,5 m 2. Nhưng thực tế hiện nay chị T đang quản lý sử dụng diện tích 400,5 m 2 trong thửa đất số 210, diện tích 410 m 2 theo bản đồ năm 2014. Về diện tích tăng thêm này xác định là do hành lang giao thông trước kia theo bản đồ năm 2003 là rộng hơn, ranh giới giao thông là đoạn ( 5’-8 ) trong sơ đồ hiện trạng thửa đất. Nay theo bản đồ năm 2014 ranh giới giao thông là đoạn (6-7), tăng thêm phần diện tích 74 m 2 có tứ cận là (5’-5-6-7-8-5'). Nên xác định phần diện tích tăng thêm này không phải là phần diện tích chị T nhận chuyển nhượng của ông B, theo bản đồ năm 2003 thì ông B không được chuyển nhượng phần đất giao thông này. Xác định diện tích chị T nhận chuyển nhượng của ông B hiện nay là 326,5 m 2 được giới hạn bởi các điểm (2-3-4-5'-8-2 ) trong sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án sơ thẩm.

Như vậy, ông B, bà C kháng cáo nhưng không đưa ra được căn cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ nên cần bác toàn bộ kháng cáo của ông B, bà C và giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

Do ông B, bà C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án quyết định:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2023/DS-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị C.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND TX Q;
  • - Chi cục THADS TX Q;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Xuân Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-PT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 63/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T Bị đơn: Ông Phạm Văn B; Bà Nguyễn Thị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger