|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HSST
Ngày 23 tháng 04 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Xuân Minh |
| Bà Vũ Phương Liên |
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Gấm – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Ông Đỗ Tùng Lâm - Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
1 Phùng Xuân D, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không sinh năm: 2003; Nơi ĐKHKTT: số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Nơi ở: số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phùng Xuân T và bà Lý Thu T; Họ và tên vợ: Nguyễn P; sinh năm: 2003; Có 01 con sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/09/2023; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
2. Đàm Văn S, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 2000; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã G, huyện V, tỉnh Y; Nơi ở: số 8 ngõ 110, đường T, phường T, quận C, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Đàm Văn C và bà Trần Thị T (đã chết)
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lưu Thùy L, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/9/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội trong khi làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện tại trước cửa số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, Phùng Xuân D đưa cho anh Nguyễn Văn T (Sinh năm: 1989, HKTT: Xã H, huyện H, tỉnh H– nhân viên giao hàng hãng A) 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, anh T tự nguyện giao nộp cho tổ công tác hộp giấy màu vàng từ túi quần bên phải mà D vừa đưa, qua kiểm tra phát hiện bên trong có 01 điếu thuốc lá điện tử. Tại chỗ, Phùng Xuân D khai nhận điếu thuốc lá điện tử đưa cho anh T là “Pod Chill”, chứa chất ma túy để anh T giao cho khách. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở Công an phường P giải quyết.
Thu giữ của anh Nguyễn Văn T:
- 01 hộp giấy chữ nhật màu vàng, bên trong có 01 điếu thuốc lá điện tử;
- 01 điện thoại nhãn Nokia màu xanh, có số điện thoại 0398.933.xxx (đã cũ, đã qua sử dụng).
- 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen, BKS: 38P1 – 465.31 (đã cũ, đã qua sử dụng).
Thu giữ của Phùng Xuân D: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, IMEI: 351330881204172, kèm sim số: 0836913333 (thu giữ của Phùng Xuân D).
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Xuân D tại tầng 3, số 6 ngõ 373 phố H, phường H, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội phát hiện thu giữ:
- 27 điếu thuốc lá điện tử bên trong 27 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh (mỗi điếu để trong 01 hộp);
- 27 điếu thuốc lá điện tử bên trong 27 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng (mỗi điếu để trong 01 hộp);
- 08 bao thuốc lá có in logo "Bride”, bên trong mỗi bao có 06 điếu thuốc chứa thảo mộc khô.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, màu tím, IMEI: 355597829919956, kèm sim số: 0342933537 (thu giữ của Nguyễn Phương L).
Tại Bản Kết luận giám định số 6470/KL-KTHS ngày 30/9/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội và Bản kết luận giám định số: 9111/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
- 01 điếu thuốc lá điện tử bên trong 01 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong điếu là: 0,0245 gam.
- 27 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0344 gam. (Quy đổi 27 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,9288 gam).
- 27 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử có ma túy loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0245 gam. (Quy đổi 27 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,6615 gam).
- Thảo mộc khô bên trong 48 điếu thuốc (để trong 08 bao thuốc) có ma túy loại “ADB-BUTINACA”, tổng khối lượng: 40,328 gam. Hàm lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trung bình trong 40,328 gam thảo mộc khô trong các điếu thuốc: 0,7% (Quy đổi trong 40,328 gam thảo mộc khô có tổng khối lượng trung bình ADB-BUTINACA: 0,7% x 40,328 gam = 0,282 gam).
Như vậy, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 55 điếu thuốc lá điện tử thu giữ của Phùng Xuân D là 1,6148 gam. Khối lượng trung bình của chất ma túy ADB-BUTINACA trong 40,328 gam thảo mộc khô thu giữ của Phùng Xuân D là 0,282 gam. 02 chất ma túy trên thuộc nhóm các chất muối có thể tồn tại trong ma túy được quy định tại STT 92, 241 – IIC – Danh Mục II - Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (ma túy khác ở thể rắn). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của Phùng Xuân D là 1,8968 gam. Nên khối lượng ma túy Phùng Xuân D bán trái phép được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Xuân D khai: Khoảng 0 giờ 25 phút ngày 22/09/2023, có 01 nam thanh niên dùng số điện thoại ‘0584.952.xxx” nhắn tin vào số điện thoại “0836.913.xxx” (Số điện thoại của D) hỏi mua 01 chiếc “Ci Podchill” vị táo lạnh, gửi về địa chỉ 45 phố, phường H quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. D đồng ý bán 01 chiếc “Podchill” với giá 600.000 đồng, yêu cầu nam thanh niên chuyển tiền vào số tài khoản: 38881268888, chủ tài khoản: Nguyễn Phương L tại ngân hàng TP Bank (tài khoản của vợ D). Sau khi nhận được tiền, D đặt giao hàng qua ứng dụng A để giao cho khách. Khi nhân viên giao hàng (là anh Nguyễn Duy T) đến, D đưa cho anh T 01 hộp giấy màu vàng bên trong chứa “Podchill” thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
D khai cách đây hơn 01 năm thông qua bạn bè xã hội, D biết Đàm Văn S (sử dụng số điện thoại 0837.269.xxx) là người bán thuốc lá điện tử chứa chất ma túy, D lấy một số lượng thuốc lá điện tử chứa chất ma túy từ S về để bán lẻ cho người có nhu cầu dùng, mỗi một điếu thuốc lá điện tử D hưởng lợi 300.000 đồng/điếu.
Đối với 55 điếu thuốc lá điện tử chứa ma túy bị thu giữ, D khai trước đây mua của Đàm Văn S 150 điếu với giá 260.000 đồng/điếu. Tổng số tiền D trả cho S là 39.000.000 đồng, D dùng tài khoản ngân hàng số 38881268888, chủ tài khoản: Nguyễn Phương L tại ngân hàng TP Bank để trả tiền mua ma túy cho S. D không nhớ đã bán cho ai và số lượng như thế nào vì mỗi lần giao dịch xong, D thường xóa hết mọi liên lạc. Do tài khoản của D không sử dụng được nên D mượn tài khoản của vợ là chị Nguyễn Phương L để giao dịch, chị L không biết việc D sử dụng tài khoản để làm gì, không biết D bán thuốc lá điện tử có ma túy cho người khác. Tuy nhiên, ngoài lời khai của D không có tài liệu khác chứng minh việc D bán trái phép ma túy cho những người khác, nên không đủ căn cứ xác định D phạm tội nhiều lần.
Đối với 48 điếu thuốc (để trong 08 bao thuốc) có ma túy loại “ADB-BUTINACA", D khai mua của một người không quen biết qua mạng xã hội về để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác kiểm tra, thu giữ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện để xác minh, xử lý.
Anh Nguyễn Văn T khai: Khoảng 00 giờ 30 phút, anh T đang làm nhân viên giao hàng của hãng A thì trên ứng dụng báo có một đơn hàng từ số 6 tổ 5 ngõ 373 phố H đến địa chỉ 45 phố H, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. Anh T nhận đơn và đi đến trước số 6 tổ 5 ngõ 373 phố H. Tại đây, anh T gặp Phùng Xuân D và nhận từ D 01 hộp giấy màu vàng, anh T cất vào túi quần phía trước bên phải. Lúc này, có tổ công tác kiểm tra và bắt giữ như nêu trên. Anh T không quen biết Phùng Xuân D, trên hệ thống ứng dụng đặt hàng chỉ hiện số điện thoại và địa chỉ người nhận. Khi nhận hàng, anh T chưa mở ra nên không rõ bên trong hộp giấy mà D đưa có gì.
Chị Nguyễn Phương L (Sinh năm: 2003; HKTT: 40 phố A, phường Y, quận T, Hà Nội; Nơi ở: số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) – vợ của Phùng Xuân D khai: Số tang vật thu giữ là của D mua về nhằm bán cho người khác kiếm lời. Chị L chỉ biết số Podchill đó là thuốc lá điện tử, không biết trong đó có chứa chất ma túy. Việc thu lợi do bán điếu thuốc lá điện tử trên chị L không biết. Do tin tưởng nhau nên chị L cho D mượn tài khoản ngân hàng TP Bank, số: 38881268888 của chị L để D giao dịch.
Ngày 02/11/2023, Đàm Văn S đến Công an quận Hoàn Kiếm đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, S lên mạng xã hội Telegram và Facebook tìm mua podchill mã “Si” để kiếm lời. Sinh tìm được một người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) nhập 250 điếu thuốc lá điện tử chứa ma túy tên “Si” với giá 250.000 đồng/cái và cất giấu tại nhà. Ngày 21/9/2023, S đã bán 150 điếu thuốc trên cho Phùng Xuân D với giá 260.000 đồng/điếu. Tổng số tiền D trả là 39.000.000 đồng, S hưởng lời 1.500.000 đồng. D đã trả số tiền trên từ tài khoản TP Bank, số tài khoản: 38881268888 mang tên Nguyễn Phương L sang tài khoản Vietcombank, số 2832999999 của S.
Ngoài bán cho D, S bán cho khoảng 3-4 người mua qua mạng xã hội Telegram với giá khoảng 400.000 – 500.000 đồng/cái, sau khi bán xong S đã xóa toàn bộ liên lạc nên không nhớ người mua. Số thuốc lá điện tử còn lại S cất tại nhà, thi thoảng S có lấy để sử dụng. S không nhớ chính xác cụ thể những lần bán ma túy này, không xác định được tang vật và thông tin người mua. Tuy nhiên, ngoài lời khai của S không có tài liệu khác chứng minh việc S bán trái phép ma túy cho những người khác, nên không đủ căn cứ xác định S phạm tội nhiều lần.
Tạm giữ của Đàm Văn S: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax màu đen, số IMEI: 353650691010230 (đã qua sử dụng, kèm sim số: 0837269999). Kiểm tra điện thoại không phát hiện nội dung trao đổi, giao dịch mua bán ma túy.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S tại số 8 ngõ 110, đường T, phường T, quận C, Hà Nội phát hiện thu giữ:
- 04 hộp giấy hình vuông, kích thước khoảng 12x12x5 cm bên trong mỗi hộp chứa 10 điếu thuốc lá điện tử màu hồng có logo chữ VENUS, COLD MANGOSTEEN;
- 03 hộp giấy hình vuông, kích thước 12x12x5 cm bên trong mỗi hộp chứa 10 điếu thuốc lá điện tử màu xanh có logo chữ VENUS, COLD MANGOSTEEN;
- 01 hộp giấy hình vuông, kích thước 12x12x5 cm bên trong chứa 09 điếu thuốc lá điện tử màu xanh có logo chữ VENUS, COLD MANGOSTEEN;
- 02 điếu thuốc lá điện tử có logo chữ SI, Bluebeeries Lemon;
- 02 điếu thuốc lá điện tử có logo chữ GANGSTER – PEACH ICE.
Tại Bản Kết luận giám định số 7434/KL-KTHS ngày 12/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội và Bản kết luận giám định số: 9111/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
- 04 hộp giấy hình vuông, kích thước 12x12x5cm, bên trong mỗi hộp có 10 điếu thuốc lá điện tử màu hồng có in logo chữ VENUS COLD MANGOSTEEN đều có loại ma túy MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0004 gam. (Quy đổi 40 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,016 gam).
- 03 hộp giấy hình vuông, kích thước khoảng 12x12x5cm, bên trong mỗi hộp đều chứa 10 điếu thuốc lá điện tử màu xanh, có in logo chữ VENUS COLD MANGOSTEEN đều có loại ma túy MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0005 gam. (Quy đổi 40 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,015 gam).
- 01 hộp giấy hình vuông, kích thước 12x12x5cm, chứa 09 (chín) điếu thuốc lá điện tử màu xanh có in logo chữ VENUS COLD MAN GOSTEEN đều có loại ma túy MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0005 gam. (Quy đổi 09 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,0045 gam).
- 02 điếu thuốc lá điện tử có logo chữ SI, Bluebeeries Lemon đều có loại ma túy MDMB-4en-PINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 01 điếu là: 0,0262 gam. (Quy đổi 02 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA là: 0,0524 gam).
- 02 điếu thuốc lá điện tử có logo chữ GANGSTER – PEACH ICE. Đều có loại ma túy ADB-BUTINACA, khối lượng trung bình của chất ma túy ADB-BUTINACA trong 01 điếu là: 0,0186 gam. (Quy đổi 02 điếu thuốc lá điện tử có tổng khối lượng trung bình chất ma túy ADB-BUTINACA: 0,0372 gam).
Như vậy, khối lượng trung bình của chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong 81 điếu thuốc lá điện tử thu giữ của Đàm Văn S là 0,0879 gam, khối lượng trung bình của chất ma túy ADB-BUTINACA trong 02 điếu thuốc lá điện tử thu giữ của Đàm Văn S là 0,0372 gam. 02 chất ma túy trên thuộc nhóm các chất muối có thể tồn tại trong ma túy được quy định tại STT 92, 241 – IIC – Danh Mục II - Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (ma túy khác ở thể rắn). Đàm Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy bao gồm 0,0879 gam loại MDMB-4en-PINACA, 0,0372 gam ADB-BUTINACA thu giữ tại nhà và 1,6148 gam loại MDMB-4en-PINACA thu giữ của Phùng Xuân D, tổng khối lượng ma túy S phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,7399 gam bao gồm 1,7027 gam ma túy loại MDMB-4en-PINACA và 0,0372 gam ma túy loại ADB-BUTINACA. Nên khối lượng ma túy Đàm Văn S bán trái phép được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
S khai mua số ma túy thu giữ tại nhà với mục đích bán kiếm lời, tuy nhiên chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
- Đối với người hỏi mua thuốc lá điện tử chứa ma túy của Phùng Xuân D: Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ điện tín số điện thoại của nam thanh niên mua ma túy của Phùng Xuân D: 0584952909. Kết quả xác định chủ thuê bao là chị Đặng Thị T (Sinh năm: 1985; CMND: [...]; Địa chỉ: xã T, huyện N, tỉnh H). Xác minh tại Công an xã T huyện N, tỉnh H không có ai tên Đặng Thị T có lai lịch như trên có hộ khẩu thường trú, cư trú trên địa bàn. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, xử lý.
- Đối với người bán thuốc lá điện tử chứa ma túy cho Đàm Văn S: Do S khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại người đã bán 250 điếu thuốc lá điện tử chứa ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ để xử lý.
- Đối với anh Nguyễn Văn T (người nhận đơn hàng của Phùng Xuân D): anh T xuất trình được đơn hàng trên ứng dụng A đi từ số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đến 45 phố, phường H, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội phù hợp với nội dung vụ việc. Ngoài ra, kiểm tra xe máy của anh T không phát hiện đồ vật, tài sản liên quan đến ma túy. Qua xét nghiệm xác định anh T âm tính với các chất ma túy. Từ các tình tiết trên, xét thấy anh T không biết D đưa thuốc lá điện tử chứa ma túy để giao cho khách nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, gắn sim số: 0398933795 và chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen, BKS: 38P1 – 565.31 thu giữ của Nguyễn Văn T: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định anh T là chủ sở hữu những tài sản trên, anh T sử dụng để đi làm hàng ngày. Xét thấy không liên quan đến vụ án, ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả số tài sản trên cho anh T. Anh T nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị khác.
- Đối với chị Nguyễn Phương L (vợ của Phùng Xuân D): L là vợ của Phùng Xuân D, cùng sinh sống tại số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. Mặc dù D sử dụng tài khoản ngân hàng của L để giao dịch, mua bán trái phép chất ma túy, L biết D buôn bán thuốc lá điện tử nhưng ngoài căn cứ trên, không có căn cứ nào khác chứng minh L biết D bán thuốc lá điện tử chứa ma túy cho người khác nhằm mục đích kiếm lời nên không xem xét vai trò đồng phạm với Phùng Xuân D trong việc bán trái phép chất ma túy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím, kèm sim số: 0342933537 thu giữ của Nguyễn Phương L: Xét thấy chị L không liên quan đến việc D bán trái phép chất ma túy, ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại trên cho chị L. Chị L nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị khác.
Bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 06/03/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Phùng Xuân D và Đàm Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Phùng Xuân D và Đàm Văn S khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa tại phiên tòa:
Về tội danh: Nhất trí về tội danh và điều khoản Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố đối với bị cáo Đàm Văn S. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX cân nhắc một số điểm sau: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không quanh co chối tội. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, là người dân tộc Giáy, địa bàn bị cáo sinh sống thuộc thôn đặc biệt khó khăn, thuộc hộ cận nghèo của thôn. Bị cáo học chỉ hết lớp 9 nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, mẹ chết sớm bố không có việc làm chỉ vì hám lợi mà phạm tội. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phùng Xuân D và Đàm Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng truy tố, các bị cáo phạm tội lần đầu, ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Phùng Xuân D từ đến 30 đến 34 tháng tù, bị cáo Đàm Văn S từ 30 đến 34 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Vật chứng: tịch thu tiêu hủy:
- 01 hộp niêm phong số 9111/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký họ tên Đặng Tuấn Hiệp – Cán bộ Đội CSĐT TP về ma túy – CAQ. Hoàn Kiếm, Đoàn Thị Lệ Hằng – Cán bộ Viện khoa học hình sự - Bộ Công an. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Phùng Xuân D và Đàm Văn S. Bên trong gồm:
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 03 điếu thuốc lá điện tử);
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 34,535 gam thảo mộc khô trong các điếu thuốc. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 5,793 gam).
- 36 điếu thuốc lá điện tử màu hồng có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 35 điếu thuốc lá điện tử màu xanh có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ SI Bluebeeries Lemon (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ GANGTER PEARCH ICE (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, IMEI: 351330881204172, kèm sim số: 0836913333 (thu giữ của Phùng Xuân D).
Tịch thu: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax màu đen, số IMEI: 353650691010230 (đã qua sử dụng, kèm sim số: 0837269999) của Đàm Văn S; truy thu của bị cáo S số tiền 1.500.000 đồng tiền thu lời bất chính.
Trợ giúp viên pháp lý trình bày luận cứ bảo vệ quyền lợi cho bị cáo : nhất trí tội danh và thủ tục tố tụng tại phiên tòa, không tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát, hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn. Mẹ bị cáo đã chết, là người dân tộc thiểu số, nhận biết pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt đủ sức răn đe nhưng cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm được trở về với xã hội.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai trái, Viện Kiểm sát truy tố là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/9/2023 tại trước số 6 ngõ 373 phố H, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Phùng Xuân D đã có có hành vi giao cho anh Nguyễn Văn T 01 điếu thuốc lá điện tử có khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,0245 gam nhằm bán cho khách kiếm lời. Ngoài ra, khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Xuân D còn phát hiện, thu giữ 54 điếu thuốc lá điện tử có khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 1,5903 gam và 40,328 gam thảo mộc khô có khối lượng lượng trung bình chất ma túy ADB-BUTINACA là 0,282 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma túy mà Phùng Xuân D phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,8968 gam bao gồm 1,6148 gam ma túy loại MDMB-4en-PINACA và 0,282 gam ma túy loại ADB-BUTINACA.
Ngày 02/11/2023, Đàm Văn S đã đến Công an quận Hoàn Kiếm đầu thú về hành vi bán trái phép 150 điếu thuốc lá điện tử chứa ma túy loại MDMB-4en-PINACA cho Phùng Xuân D, hưởng lợi 1.500.000 đồng. Ngoài ra, khám xét khẩn cấp nơi ở của Đàm Văn S còn phát hiện, thu giữ 81 điếu thuốc lá điện tử có khối lượng trung bình chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,0879 gam, 02 điếu thuốc lá điện tử có khối lượng trung bình chất ma túy ADB-BUTINACA là 0,0372 gam.
Như vậy, Đàm Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy bao gồm 0,0879 gam loại MDMB-4en-PINACA, 0,0372 gam ADB-BUTINACA thu giữ tại nhà và 1,6148 gam loại MDMB-4en-PINACA thu giữ của Phùng Xuân D, tổng khối lượng ma túy Đàm Văn S phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,7399 gam bao gồm 1,7027 gam ma túy loại MDMB-4en-PINACA và 0,0372 gam ma túy loại ADB-BUTINACA.
Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy, nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng, không bằng sức lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nên cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đầu thú để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[3] Biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy:
- 01 hộp niêm phong số 9111/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký họ tên Đặng Tuấn Hiệp – Cán bộ Đội CSĐT TP về ma túy – CAQ. Hoàn Kiếm, Đoàn Thị Lệ Hằng – Cán bộ Viện khoa học hình sự - Bộ Công an. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Phùng Xuân D và Đàm Văn S. Bên trong gồm:
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 03 điếu thuốc lá điện tử);
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 34,535 gam thảo mộc khô trong các điếu thuốc. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 5,793 gam).
- 36 điếu thuốc lá điện tử màu hồng có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 35 điếu thuốc lá điện tử màu xanh có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ SI Bluebeeries Lemon (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ GANGTER PEARCH ICE (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, IMEI: 351330881204172, kèm sim số: 0836913333 (thu giữ của Phùng Xuân D).
Trả lại cho Đàm Văn S: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax màu đen, số IMEI: 353650691010230 (đã qua sử dụng, kèm sim số: 0837269999) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Buộc bị cáo Đàm Văn S phải nộp số tiền 1.500.000 đồng tiền thu lời bất chính.
[4] Bị cáo Phùng Xuân D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Đàm Văn S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phùng Xuân D và bị cáo Đàm Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phùng Xuân D 27 (hai bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/09/2023.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn S 26 (hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/11/2023.
4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:
- 01 hộp niêm phong số 9111/C09(TT2), trên mép dán có hình dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và chữ ký họ tên Đặng Tuấn Hiệp – Cán bộ Đội CSĐT TP về ma túy – CAQ. Hoàn Kiếm, Đoàn Thị Lệ Hằng – Cán bộ Viện khoa học hình sự - Bộ Công an. Bên trong chứa ma túy thu giữ của Phùng Xuân D và Đàm Văn S. Bên trong gồm:
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu xanh, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 03 điếu thuốc lá điện tử);
- 24 hộp giấy hình chữ nhật màu vàng, trong mỗi hộp đều có 01 điếu thuốc lá điện tử. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 34,535 gam thảo mộc khô trong các điếu thuốc. (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 5,793 gam).
- 36 điếu thuốc lá điện tử màu hồng có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 35 điếu thuốc lá điện tử màu xanh có chữ VENUS COLD MANGOSTEEN trong 04 hộp giấy (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 04 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ SI Bluebeeries Lemon (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
- 01 điếu thuốc lá điện tử có chữ GANGTER PEARCH ICE (Phòng PC09-CATP. Hà Nội đã trích mẫu 01 điếu thuốc lá điện tử);
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu xanh, IMEI: 351330881204172, kèm sim số: 0836913333 (thu giữ của Phùng Xuân D).
Trả lại cho Đàm Văn S : 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax màu đen, số IMEI: 353650691010230 (đã qua sử dụng, kèm sim số: 0837269999) do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Buộc bị cáo Đàm Văn S phải nộp số tiền 1.500.000 đồng tiền thu lời bất chính.
Vật chứng lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận ngày 22/4/2024.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phùng Xuân D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đàm Văn S
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 63/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
