Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG RIỀNG

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/HSST

Ngày: 22-12-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hồng Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Bền

Bà Trần Ngọc Điệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc - là Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa:

Ông Lê Thành Thủ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 370/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Chúc P, sinh ngày 01/01/1985 tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp buôn bán; trình độ văn hoá (học vấn) 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Ú và bà Lê Thị M (chết); có vợ là Đinh Kim L và 03 người con; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng bị xử phạt tại Quyết định số 71/QĐ-XPHC ngày 27 tháng 6 năm 2021 của Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang; nhân thân: Ngày 17/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 02/2018/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 10 tháng 8 năm 2018; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2021, đến ngày 28/5/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay “có mặt”.

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Chúc P: Luật sư Bùi Hảo T - Văn phòng Luật sư Phạm Văn C, thuộc đoàn luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Số D, đường H, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ G, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Trần Văn K, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Ấp I, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Đào K1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Danh Nhựt A, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Lê Hoài G, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Ông Kim Ý, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Thái Thanh L1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Phan Văn K2, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

- Ông Trần Khánh S, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 20 tháng 5 năm 2021, Công an huyện G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Lê Chúc P về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Dương Văn Đ tại quán N do bị cáo làm chủ quán, thuộc ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Thu giữ trên người bị cáo 300.000 đồng, 02 điện thoại. Thu giữ tại phòng của P 04 vỏ bịch nylon, 03 đoan ống hút trong suốt, 07 đoạn ống hút màu vàng tất cả đều hàn kính một đầu và 01 chai nhựa nắp đỏ, trên nắp có 02 lỗ. Thu giữ trên người Đặng 01 bịch ma ma tuý và một đoạn ống hút chứa matuy vừa mua của bị cáo. Thời điểm bắt quả tang có mặt Trần Văn K, Đào K1 tại nhà P.

Kết quả điều tra xác định vào sáng ngày 20 tháng 5 năm 2021, Dương Văn Đ đến quán N mang điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen, đi tiệm cầm với giá 1.500.000 đồng nhưng không được, sau đó Đ đồng ý cầm cho bị cáo với giá 1.000.000 đồng nhưng vợ bị cáo là Tống Thị Mỹ L2 đưa cho Đ 450.000 đồng, bị cáo đưa cho Đ 02 bịch ma túy đá có giá tương đương 500.000 đồng. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Dương Văn Đ gọi điện thoại cho bị cáo

hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 đồng thì được bị cáo đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày Dương Văn Đ đến nhà bị cáo tại quán N để mua ma tuý như thoả thuận. Bị cáo nhận tiền xong đi ra sau nhà một lúc trở vào đưa cho Đ 01 bịt ma tuý và một đoạn ống hút chứa ma tuý đá. Đặng nhận ma tuý xong đi ra thì bị công an bắt quả tang như diễn biến trên.

Vật chứng trong vụ án thu giữ được:

- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Đỗ Chí T1 và đóng dấu Phòng K4 - Công an tỉnh K. Gồm có: nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt chứa trong 01 bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0305 gam; nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt đã sử dụng hết trong quá trình giám định và bao gói đựng mẫu vật được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu 529/2021.

- Tiền Việt Nam 300.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen đã qua sử dụng, không có thẻ sim, không thẻ nhớ, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Số seri: R39J80FWOJ, số Imel 351565090362945.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, màn hình bị vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model TA-1192, số Imei 1: 359002141118698, số Imei 2: 259002141618697, không kiểm tra sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

- Mẫu vật còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì thư có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Hoàng K3 và đóng dấu Phòng K4 - Công an tỉnh K. Gồm: Chất bám dính màu trắng chứa trong 02 bịch nylon có kích thước khoảng 01cm x 04cm đã sử dụng hết trong quá trình giám định và các bao gói đựng mẫu vật được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 582/2021.

- 01 chai nhựa (vỏ chai nước ngọt hiệu Sting) không nhãn hiệu, nắp đỏ, trên nắp có 02 lỗ, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số: 529/KL-KTHS ngày 27/5/2021 của Phòng K4 Công an tỉnh K đã kết luận:

+ Nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt chứa trong 01 bịch nylon hàn kín, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0703 gam.

+ Nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng hàn kín, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0232 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của chính phủ.

* Tại bản kết luận giám định số 582/KL-KTHS ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Phòng K4 Công an tỉnh K kết luận:

+ Chất bám dính màu trắng chứa trong 02 bịch nylon có kích thước khoảng 01cm x 04cm hàn kín một đầu, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0128 gam.

+ 02 bịch nylon có kích thước khoảng 01cm x 03cm; 02 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng kích thước khoảng 01cm x 04cm; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng kích thước khoảng 01cm x 03cm; 07 đoạn ống hút nhựa màu vàng kích thước khoảng 01cm x 04cm được hàn kín một đầu, được niêm phong gửi giám định, bên trong không chứa chất gì.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của chính phủ.

Tại bản cáo trạng số: 63/CT-VKSND-GR ngày 31/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Lê Chúc P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 251, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Chúc P từ 05 (năm) đến 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,0305 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine và tất cả bao gói được để trong 01 gói niêm phong có ký hiệu vụ số 529/2021 và 582/2021; 01 chai nhựa (vỏ chai nước ngọt hiệu Sting) không nhãn hiệu, nắp đỏ, trên nắp có 02 lỗ;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model TA-1192, số Imei 1: 359002141118698, số Imei 2: 259002141618697, không kiểm tra sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen đã

qua sử dụng, không có thẻ sim, không thẻ nhớ, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Số seri: R39J80FWOJ, số Imei 351565090362945 và 300.000 đồng.

- Trao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, màn hình bị vỡ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

- Đối với Nguyễn Thị Như M1, Trần Văn K, Đào K1Hứa Thanh H1 (Mập K) quá trình điều tra chưa chứng minh được vai trò đồng phạm nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau. Đối tượng Dương Văn Đ hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý hành chính theo quy định. Đối tượng Phan Văn K2 (Kha Đ1), Thái Thanh L1 (L), Lê Hoài G (G), Tống Thị Mỹ L2, Đào K1Trần Văn K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Cơ quan điều tra tách ra xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: Theo cáo trạng của viện kiểm sát truy tố bị cáo P theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Tuy nhiên, mức án theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát từ 05 năm đế 07 năm tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì bị cáo đã khai nhận từ khi khởi tố vụ án đến tại phiên toà hôm nay đều thừa nhận bán ma tuý cho Dương Văn Đ một lần, không thể theo lời khai của Đ cho rằng đã mua ma tuý của bị cáo hai lần, để cho rằng bị cáo không thành khẩn khai báo. Cha bị cáo ông Lê Văn Ú là người có công với cách mạng theo Quyết định số 84 ngày 07 tháng 7 năn 2009 của Bộ cho đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ và cụ bà Trần Thị C1 (bà nội bị cáo) đã có 03 con hy sinh, được Chủ Tịch Nước tặng Danh hiệu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Nên đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam để bị cáo về nuôi con. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay khó khăn nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo bằng thời gian tạm giam để bị cáo về nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, Kiểm sát viên đã

thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên toà nhưng trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Bị cáo Lê Chúc P thừa nhận, vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 20 tháng 5 năm 2021, lực lượng Công an huyện G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo về hành vi mua bán trái phép 0,0703 gam Methamphetamine cho Dương Văn Đ tại nhà P số 240, ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã có hành vi bán ma tuý để sinh lợi cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được ma túy là chất gây nghiện nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng lớn đến thể chất và tinh thần của con người và đây cũng là nguyên nhân chính phát sinh các tệ nạn và tội phạm, bản thân bị cáo trước đây đã bị kết án 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly khỏi đời sống xã hội thời gian dài, để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.

Đối chiếu hành vi của bị cáo với quy định của Bộ luật Hình sự đã có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; cha bị cáo là người có công cách mạng, bà bội bị cáo đã có 3 con hy sinh được Chủ Tịch Nước tặng Danh hiệu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời

đề nghị của Luật sư áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân của bị cáo: Ngày 17/01/2018, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 02/2018/HSST. Bị cáo chấp hành xong ngày 10 tháng 8 năm 2018 và 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng bị xử phạt tại Quyết định số 71/QĐ-XPHC ngày 27 tháng 6 năm 2021 của Công an huyện G, tỉnh Kiên Giang đã chấp hành xong nên bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, phạt bổ sung đối với bị cáo là 5.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,0305 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine và tất cả bao gói được để trong 01 gói niêm phong có ký hiệu vụ số 529/2021 và 582/2021; 01 chai nhựa (vỏ chai nước ngọt hiệu Sting) không nhãn hiệu, nắp đỏ, trên nắp có 02 lỗ;

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model TA-1192, số Imei 1: 359002141118698, số Imei 2: 259002141618697, không kiểm tra sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen đã qua sử dụng, không có thẻ sim, không thẻ nhớ, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Số seri: R39J80FWOJ, số Imei 351565090362945 và 300.000 đồng.

- Trao trả cho Lê Chúc P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, màn hình bị vỡ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

[7] Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét thống nhất một phần và thống nhất một phần lời đề nghị của vị Luật sư, đối với đề nghị xử bị cáo bằng thời gian tam giam của Luật sư là chưa đủ nghiêm vì bị cáo đã bị xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý nay lại phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Chúc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Chúc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Chúc P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 20/5/2021.

    Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo Lê Chúc P phải nộp số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào ngân sách Nhà nước.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy 0,0305 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine và tất cả bao gói được để trong 01 (một) gói niêm phong có ký hiệu vụ số 529/2021 và 582/2021; 01 (một) chai nhựa (vỏ chai nước ngọt hiệu Sting) không nhãn hiệu, nắp đỏ, trên nắp có 02 lỗ;

    - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model TA-1192, số Imei 1: 359002141118698, số Imei 2: 259002141618697, không kiểm tra sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8, màu đen đã qua sử dụng, không có thẻ sim, không thẻ nhớ, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Số seri: R39J80FWOJ, số Imei 351565090362945 và 300.000 đồng.

    - Trao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, màn hình bị vỡ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

    (Theo quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2021).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Chúc P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Lê Chúc P biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 22/12/2023; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Giồng Riềng;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Riềng;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Giồng Riềng;
  • - UBND xã, phường (tt) nơi cư trú của bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hô sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Hồng Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/HSST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân huyện R đã truy tố bị cáo Lê Chúc P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger