Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2023/DSST-HNGĐ

Ngày: 22 - 8 - 2023

V/v ly hôn giữa chị N và anh T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Thẩm

2. Bà Phan Kim Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hội – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Tăng Thị Hồng N, sinh năm 1990; Nơi ĐKNKTT: khối A, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: số 10, ngõ B, đường P, khối 3, phường B, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Điện thoại: 0981.xxxxxx (Có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Hoàng Trung T, sinh năm 1981; Nơi ĐKNKTT: số 129, ngõ T, đường T, khối A, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Điện thoại: 0918.xxxxxx (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Tăng Thị Hồng N trình bày: Chị Tăng Thị Hồng N và anh Hoàng Trung T đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện. Hai bên tiến hành đăng ký kết hôn lần đầu vào năm 2013 tại UBND phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống chị N và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2016, hai bên đã thống nhất thuận tình ly hôn và đã được TAND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Sau khi ly hôn, vì con cái nên chị và anh T quyết định quay lại với nhau. Đến ngày 10/4/2018 thì chị và anh T tiến hành đi đăng ký kết hôn lại tại UBND phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn chị và anh T về chung sống bên gia đình anh T tại khối A, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu mới quay lại chị và anh T chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì lại bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và trầm trọng nhất từ năm đầu năm 2021 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, không tôn trọng nhau, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã từng được gia đình hai bên nội ngoại hòa giải nhưng không cải thiện được. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2022, chị đã cùng các con bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Nay chị N thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm thực sự không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh Hoàng Trung T.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị N và anh T có 03 con chung tên là Hoàng Tăng T – sinh ngày 25/11/2013, Hoàng Tăng M – sinh ngày 25/5/2018 và Hoàng Anh B – sinh ngày 28/01/2022. Từ khi sống ly thân thì chị N trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung. Nay ly hôn vì các con còn quá nhỏ và chị không muốn chị em phải tách nhau ra nên chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi trưởng thành. Chị yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị mỗi con từ 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng đến 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)/tháng cho đến khi các con chung trưởng thành. Bản thân chị hiện đang lao động tự do, bán hàng quần áo, thu nhập ổn định mỗi tháng 10.000.000 đồng/tháng nên chị có đủ khả năng kinh tế để nuôi con. Mặt khác chị còn có sự hỗ trợ của bố mẹ về kinh tế cũng như thời gian chăm sóc các con.

Về tài sản chung: Chị N và anh T tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Trung T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh T trình bày: Anh T đồng ý với lời trình bày của chị Tăng Thị Hồng N về điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian và nguyên nhân mâu thuẫn là đúng sự thật. Quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do vợ chồng sống chung thường xuyên cãi vã nên anh T cũng tạo điều kiện cho chị N có tư tưởng thoải mái nên đã để cho chị N cùng các con về bên ngoại sinh sống được mấy tháng nay. Anh T vẫn thường đi lại thăm nom, chăm sóc con chung. Mặc dù trước đây anh chị đã từng ly hôn nhưng đã quay lại với nhau và có thêm 02 con chung. Nay anh T thấy tình cảm vẫn còn, mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức nghiêm trọng nên chị N làm đơn xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án cho anh chị thời gian hòa giải để có cơ hội hàn gắn quay lại cùng nhau nuôi giạy con chung trưởng thành.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có 03 con chung như chị N trình bày. Từ khi chị N về bên ngoại sinh sống thì các con chung đều sống cùng với chị N. Bản thân anh thường đi lại thăm nom, chăm sóc các con. Nếu chị N kiên quyết ly hôn và Tòa án giải quyết ly hôn thì anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi trưởng thành. Nếu được nuôi cả 03 con chung thì anh không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh hiện đang lao động tự do, kinh doanh nhiều nơi, mặc dù tính chất công việc của anh thường xuyên đi xa, đi nhiều địa phương khác nhau nhưng anh cũng có sự hỗ trợ của ông bà nội về kinh tế cũng như thời gian chăm sóc các con. Mỗi lần anh đi xa thì anh sẽ giao con lại cho ông bà nội chăm sóc, sẽ không ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của các con.

Về tài sản chung: Anh T và chị N tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Về thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của họ. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tăng Thị Hồng N và anh Hoàng Trung T.
  2. Về nuôi con chung: Giao cả 03 con chung Hoàng Tăng T – sinh ngày 25/11/2013, Hoàng Tăng M – sinh ngày 25/5/2018 và Hoàng Anh B – sinh ngày 28/01/2022 cho chị Tăng Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
  3. Anh Hoàng Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị N mỗi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 08/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

    Anh Hoàng Trung T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về tài sản chung: Chị Tăng Thị Hồng N và anh Hoàng Trung T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
  5. Về án phí: Chị Tăng Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Anh Hoàng Trung T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về Thẩm quyền: Chị Tăng Thị Hồng N khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng Trung T có ĐKNKTT tại khối A, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Hoàng Trung T theo đúng quy định tại Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Hoàng Trung T là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tăng Thị Hồng N kết hôn với anh Hoàng Trung T trên cơ sở tự nguyện. Vào năm 2013, chị N và anh T đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2016, do mâu thuẫn nên chị N và anh T đã thống nhất thuận tình ly hôn và đã được Tòa án nhân dân thành phố Vinh ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Sau đó chị N và anh T lại quay về chung sống với nhau. Đến ngày 10 tháng 4 năm 2018, chị N và anh T tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét quá trình chung sống giữa chị N và anh T thấy rằng: Trong quá trình chung sống chị N và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không tôn trọng nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị N và anh T đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2022 cho đến nay không có trách nhiệm gì với nhau. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn nhưng có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh T trên thực tế không còn tồn tại, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Tăng Thị Hồng N là phù hợp pháp luật nên cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Tăng Thị Hồng N được ly hôn anh Hoàng Trung T.

[2.2]. Về nuôi con chung: Quá trình chung sống, chị N và anh T có 03 con chung là Hoàng Tăng T – sinh ngày 25/11/2013, Hoàng Tăng M – sinh ngày 25/5/2018 và Hoàng Anh B – sinh ngày 28/01/2022. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị N đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung cho đến khi trưởng thành. Còn anh T cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến khi trưởng thành. Hội đồng xét xử thấy rằng, nguyện vọng nuôi con chung của chị N và anh T là chính đáng. Tuy nhiên việc giao con chung cho ai nuôi cần phải xem xét vào quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, thuận lợi trong việc chăm sóc, giáo dục con và phù hợp về sự phát triển tâm sinh lý của các con. Xét trên thực tế, chị N cũng như anh T đều thừa nhận từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì cả 03 con chung đều sinh sống ổn định, học tập cùng với chị N. Mặc dù anh T có đi lại thăm nom, chăm sóc các con nhưng anh T thừa nhận do tính chất công việc anh thường xuyên đi xa, đi nhiều địa phương khác nhau, vì vậy anh T sẽ không đảm bảo được về mặt thời gian và điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung. Mặt khác, tuy anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh T chỉ tham gia hòa giải một lần sau đó là vắng mặt không có lý do, như vậy anh T đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi con của mình. Xét về độ tuổi và giới tính thì cháu Hoàng Tăng T và Hoàng Tăng M là con gái; cháu Hoàng Anh B đang còn quá nhỏ tuổi, dưới 36 tháng tuổi; quá trình lấy ý kiến của cháu Hoàng Tăng T thì cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ và các em nên cả 03 con chung cần ở với mẹ sẽ phù hợp về độ tuổi, sự phát triển tâm sinh lý của các con hơn và cũng phù hợp với nguyện vọng của con. Do đó cần giao cả 03 con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị N mỗi con, mỗi tháng từ 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Hội đồng xét xử thấy rằng, việc cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên xét mức cấp dưỡng mà chị N yêu cầu là quá cao so với mức bình quân thu nhập của một người. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi mỗi con chung, mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) như yêu cầu khởi điểm của chị N. Do đó cần buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị N mỗi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 08/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị Tăng Thị Hồng N và anh Hoàng Trung T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[2.4]. Về án phí: Chị Tăng Thị Hồng N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Trung T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[2.5]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tăng Thị Hồng N và anh Hoàng Trung T.
  2. Về nuôi con chung: Giao cả 03 con chung Hoàng Tăng T – sinh ngày 25/11/2013, Hoàng Tăng M – sinh ngày 25/5/2018 và Hoàng Anh B – sinh ngày 28/01/2022 cho chị Tăng Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành.
  3. Anh Hoàng Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị N mỗi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 08/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

    Anh Hoàng Trung T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về án phí: Chị Tăng Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001618 ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
  5. Anh Hoàng Trung T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

  6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền cấp dưỡng) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDTP Vinh;
  • - Chi cục THA dân sự TP Vinh;
  • - UBND p. H, tp Vinh, Nghệ An
  • (Đăng ký kết hôn số 30 ngày 10/4/2023);
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/DSST-HNGĐ ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 63/2023/DSST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger