|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HSPT Ngày: 22/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như
Bà Nguyễn Thu Hà
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:
Bà Bùi Thị Thanh Hiếu — Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 50/2024/HSPT ngày 16 tháng 02 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Vũ Duy T và bị cáo Nguyễn Thái S đối với bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HS - ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
*Bị cáo kháng cáo:
- Vũ Duy T, sinh năm 1989; Nơi ĐKNKTT: Thôn E, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe taxi; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Duy H và bà Lê Thị H1; Chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không.
- Nguyễn Thái S, sinh năm 1980; Nơi ĐKNKTT: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy T1 và bà Hà Thị T2; Có vợ là Nguyễn Thị H2 và có 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/3/2023 đến ngày 07/4/2023 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn ‘Cấm đi khỏi nơi cư trú”. “Vắng mặt”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/5/2023 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn ‘Cấm đi khỏi nơi cư trú”. “Vắng mặt”.
*Bị cáo không kháng cáo:
- Lê Đình Đ, sinh năm: 1990; Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; Nơi ĐKNKTT: Thôn F, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
- Anh Lê Văn H3, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
- Anh Lê Xuân Đ1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm của anh Lê Văn H3 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của Lê Đình Đ. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đình Đ, thu giữ 01 giấy bán xe, 01 hợp đồng thuê xe và lái xe.
Tại cơ quan điều tra Lê Đình Đ khai báo:
Lê Đình Đ có hành vi môi giới để Nguyễn Thị N và Vũ Duy T cho anh Lê Văn H3 và anh Lê Xuân T3 vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:
Lần 1:
Ngày 20/3/2023, thông qua Nguyễn Thái S, Đ biết Lê Văn H3 có nhu cầu cầm cố quyền sử dụng đất để vay tiền. Lê Đình Đ sử dụng ứng dụng zalo gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà H3 cầm cố cho Nguyễn Thị N (Nga là chị họ của Đ). Sau khi Đ cùng N và H3 đi xem đất thì N đồng ý nhận cầm cố quyền sử dụng 2 mảnh đất để cho H3 vay 300.000.000đ và hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Lãi suất Lê Đình Đ và Lê Văn H3 thỏa thuận sau đó Đ báo với N là 36.000.000đ/tháng, cắt lãi trước, trừ vào số tiền gốc và N, H3 mỗi người phải chịu 1.000.000đ phí công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Do đó, N chỉ phải chuyển cho H3 263.000.000đ. N đồng ý và sử dụng ứng dụng chuyển tiền trên điện thoại của Ngân hàng A để chuyển tiền vào tài khoản của Đ, sau đó Đ sẽ chuyển cho H3. Tuy nhiên, N không chuyển được do ứng dụng bị lỗi.
Chiều 20/3/2023, Nguyễn Thị N và Lê Đình Đ đến Ngân hàng A1 chi nhánh T6 để N chuyển số tiền 263.000.000đ vào tài khoản số 0985000333, Ngân hàng M của Lê Văn H3. Sau khi chuyển tiền xong, trên đường N chở Lê Đình Đ đến Văn phòng C1 lấy xe máy, N đưa cho Đ 11.000.000đ, gồm 9.000.000đ tiền hoa hồng môi giới của Đ và 2.000.000đ tiền phí công chứng Đ đã bỏ ra trước đó để trả tiền công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Lãi suất N tính đối với anh H3 là 146%/năm, gấp 7,3 lần so với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. T4 lời bất chính số tiền là: 36.000.000đ (lãi thỏa thuận) – 4.931.507₫ (20% lãi theo quy định) = 31.068.493₫.
Anh H3 chưa thanh toán tiền gốc cho N.
Lần 2:
Ngày 22/3/2023, Lê Văn H3 liên hệ với Lê Đình Đ để cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10 vay 300.000.000đ, lãi suất cắt lãi trước 36.000.000đ/tháng. Đ gọi điện cho Vũ Duy T hỏi T về việc có nhận cầm cố xe ô tô với lãi suất như trên không. Đồng thời, thỏa thuận nếu giao dịch thành công thì Đ được hưởng 9.000.000đ tiền hoa hồng, T 27.000.000đ. Thông đồng ý, Đ gọi cho Lê Văn H3 mang xe đến Văn phòng Công chứng huyện C1 để T xem xe và lập, công chứng hợp đồng mua bán xe để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
Sau khi hoàn tất thủ tục công chứng, Vũ Duy T nhờ Nguyễn Hữu C (là em rể T) chuyển vào tài khoản Ngân hàng V số 0351001189500 của Lê Đình Đ 120.000.000đ, trong tài khoản của Đ còn 4.000.000đ nên Đ đã chuyển vào tài khoản số 0985000333, Ngân hàng M của Lê Văn H3 số tiền 124.000.000đ và Vũ Duy T đưa tiếp 140.000.000đ tiền mặt cho Lê Đình Đ. Sau đó, Đ trực tiếp đưa tiền cho Lê Văn H3 140.000.000đ, tổng cộng là 264.000.000đ.
Ngày 24/3/2023, Vũ Duy T chuyển từ tài khoản Ngân hàng A số 3516205401263 của T đến tài khoản Ngân hàng trên của Đ 12.000.000đ (gồm 9.000.000đ hoa hồng Đ được hưởng, 4.000.000₫ Đ đã bỏ ra chuyển cho H3 nhưng trừ 1.000.000đ trước đó Đ đã vay T).
Lãi suất T tính đối với H3 là 146%/năm, gấp 7,3 lần so với quy định. T4 lời bất chính số tiền là: 36.000.000₫ (lãi thỏa thuận) – 4.931.507₫ (20% lãi theo quy định) = 31.068.493₫.
Lần 3:
Ngày 25/3/2023, Lê Văn H3 và Lê Xuân Đ1 cần tiền để giải quyết công việc nên Đ1 và H3 thống nhất cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger của Đ1 để vay 400.000.000đ. H3 nói với Đ1 đang cầm xe i10 nên chuộc xe i10 ra rồi vay thêm 100.000.000đ, Đ1 đồng ý. Sau đó, Lê Văn H3 gọi cho Lê Đình Đ nói với Đ là muốn chuộc xe i10 ra, Đ đồng ý và báo cho T. Tất cả đến Văn phòng Công chứng huyện C1 để hủy hợp đồng mua bán xe i10 ngày 22/3/2023. Sau khi hủy hợp đồng, Lê Văn H3 bảo với Đ và T muốn cầm cố xe Ford Ranger của Đ1 vay 400.000.000đ, thời hạn 01 tháng, lãi suất cắt trước 48.000.000đ/tháng. Tất cả đồng ý và ký hợp đồng mua bán xe ô tô trên. Sau khi ký hợp đồng xong, do H3 chưa trả 300.000.000₫ trước đó nên T chỉ phải đưa thêm cho H3 và Đ1 100.000.000đ, trừ tiền cắt lãi trước 48.000.000đ và 2.000.000đ tiền công chứng hai hợp đồng (tổng cộng 50.000.000₫).
Do ngày 25/3/2023 là thứ bảy Ngân hàng không làm việc nên đến ngày 27/3/2023, T chuyển tiền từ tài khoản của T vào tài khoản của Đ số tiền 25.000.000đ, Đ góp 25.000.000đ của Đ. Sau đó, Đ chuyển cho anh H3 50.000.000₫ để anh H3 chuyển lại cho anh Đ1. Lần này Đ và T chưa chia tiền hoa hồng nhưng cả hai thống nhất sau khi lấy tiền gốc từ anh Đ1 trả sẽ chia đôi số tiền lãi 48.000.000₫
Lãi suất Thông tính đối với anh Đ1 là 146%/năm, gấp 7,3 lần so với quy định. T4 lời bất chính số tiền là: 48.000.000đ (lãi thỏa thuận) – 6.575.342đ (20% lãi theo quy định) = 41.424.658đ.
Khoản vay này anh Đ1 chưa thanh toán tiền gốc cho T.
* Ngày 29/3/2023 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thái S và Nguyễn Duy T1, thu giữ tại chỗ của S 01 điện thoại di động Iphone 11 pro max và nhiều tài liệu, đồ vật.
Kiểm tra điện thoại di động Iphone 11 Pro max của Nguyễn Thái S phát hiện tại mục hình ảnh có 07 ảnh chụp màn hình điện thoại, thể hiện lịch sử giao dịch chuyển khoản tới Ngân hàng A2 và lịch sử đánh bạc hình thức cược tài xỉu ngày 03 và 04/3/2023. Nguyễn Thái S khai nhận nội dung ảnh chụp thể hiện các lần S nạp tiền và các ván cược tài xỉu trên trang Web: wwl.go88vn.fun, S chụp lại trên mục lịch sử cược tài xỉu của trang bạc sau khi chơi để xem và tính toán tiền thắng thua. Nguyên Thái S sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro max đăng ký tài khoản có tên đăng nhập là số điện thoại 0909.308.xxx của S. Sau đó, liên liên kết tài khoản Ngân hàng V1 số 0341006997901 của mình để nạp tiền vào các tài khoản Ngân hàng có sẵn trong trang bạc để chơi, nếu thắng có thể rút tiền về tài khoản. Tỷ giá quy đổi tiền trong game là 100% và là tiền Việt Nam Đ.
Cách đánh như sau: Sau khi liên kết xong tài khoản ngân hàng, tại giao diện chính của trang bạc, Nguyễn Thái S chọn mục chơi tài xỉu và vào chơi bằng cách dự đoán tổng số điểm của 03 con xúc xắc, mỗi con đều có 06 mặt, có số điểm mỗi mặt lần lượt từ 1 đến 6. Người chơi cá cược với game tổng số điểm của 03 con xúc xắc. Nếu tổng điểm từ 01 đến 10 là xỉu, tổng điểm từ 11 đến 18 là tài. Kết quả sẽ được game bạc cập nhật sau mỗi lần quay xúc xắc. Khi cược trúng thì được gấp 0,98 lần số tiền đặt cược, nếu thua thì mất toàn bộ số tiền đã đặt cược. Thời gian đánh, số tiền cược, số tiền thắng được thể hiện chi tiết tại mục lịch sử cược tài xỉu trong trang bạc.
Với cách thức như trên, Nguyễn Thái S đã truy cập vào trang Web: wwl.go88vn.fun. để đánh bạc dưới hình thức cược tài xỉu, cụ thể.
- Ngày 03/3/2023, S đánh 13 ván, với tổng số tiền đánh là 156.700.000₫ và thua hết.
- Ngày 04/3/2023, S đánh 05 ván, với tổng số tiền đánh là 76.600.000₫ và thua hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã yêu cầu các Ngân hàng có liên quan sao kê lịch sử giao dịch các tài khoản ngân hàng của Vũ Duy T, Lê Đình Đ, Nguyễn Thái S, thu thập chứng từ giao dịch nộp tiền tại ngân hàng A của Nguyễn Thị N vào tài khoản của Lê Văn H3. Đối chiếu kết quả sao kê thể hiện các giao dịch phù hợp với lời khai của người vay tiền và các bị cáo. Lịch sử giao dịch chuyển tiền từ tài khoản của Nguyễn Thái S phù hợp với lời khai của S và ảnh chụp màn hình thu giữ trong điện thoại của Nguyễn Thái S về lịch sử nạp tiền và đánh bạc trong game.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HS- ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Tuyên bố:
Các bị cáo Lê Đình Đ, Vũ Duy T và Nguyễn Thị N, phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Bị cáo Nguyễn Thái S, phạm tội “Đánh bạc".
- Áp dụng: Khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng: Điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Đình Đ: 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung Lê Đình Đ: 35.000.000₫ sung ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy T: 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N: 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái S: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án và được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/5/2023.
Biện pháp tư pháp:
- Số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo Lê Đình Đ phải trả cho anh Lê Văn H3: 15.534.000đ. (Hiện bị cáo Đ đã trả số tiền 15.534.000đ cho anh H3 theo giấy nhận tiền ngày 30/11/2023). Buộc bị cáo Vũ Duy T phải trả cho anh Lê Văn H3: 64.725.658đ. Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải trả lại cho anh Lê Văn H3: 23.301.000đ. (Hiện bị cáo N đã trả số tiền 23.301.000đ cho anh H3 theo giấy nhận tiền ngày 30/11/2023).
- Khoản tiền gốc: Truy thu sung ngân sách Nhà nước cụ thể như sau: Truy thu của Lê Văn H3: 300.000.000đồng (Khoản tiền vay của N). Truy thu của Lê Văn H3: 400.000.000đồng (Khoản tiền vay của T và Đ).
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm: Truy thu sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: Truy thu của Nguyễn Thị N: 3.699.000đ (Hiện bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên lai thu tiền số 0000089 ngày 29/11/2023). Truy thu của Vũ Duy T: 10.274.000đồng. Truy thu của Lê Đình Đ: 2.466.000đ (Hiện bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên lai thu tiền số 0000090 ngày 29/11/2023).
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 bị cáo Vũ Duy T kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt tiền và truy thu đối với bị cáo; Ngày 11 tháng 01 năm 2024 bị cáo Nguyễn Thái S kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị:
Hành vi của bị cáo Vũ Duy T đã bị xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS; bị cáo Nguyễn Thái S về tội “Đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Tình tiết tăng nặng: các bị cáo Vũ Duy T và Nguyễn Thái S phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS;
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Vũ Duy T và bị cáo Nguyễn Thái S có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo S còn có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là “Đầu thú”.
Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Vũ Duy T không cung cấp thêm tình tiết mới làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt tiền.
Bị cáo Nguyễn Thái S cung cấp thêm tình tiết mới làm căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo đó là: Bị cáo có bố được tặng thưởng huân chương kháng chiến và mẹ là thanh niên xung phong, những tình tiết giảm nhẹ này quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng
Đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Duy T: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Duy T bằng hình phạt tiền, là hình phạt đã thể hiện sự khoan hồng đối với bị cáo, với số tiền phạt 130.000.000₫ là mức phạt phù hợp với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tiền của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái S, xét thấy, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 BLHS, bị cáo còn có tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Mặc dù tại cấp phúc thẩm, bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, tuy nhiên với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo mức hình phạt 36 tháng tù là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thái S là không có cơ sở chấp nhận.
Từ những nội dung và tình tiết đã phân tích, nhận định như trên, đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS:
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Duy T và Nguyễn Thái S, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc các bị cáo chấp hành hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm vì án không được chấp nhận để cải sửa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, về thủ tục kháng cáo:
Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa các bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo theo Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo không có văn bản thay đổi hoặc rút đơn kháng cáo nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận:
Xuất phát từ động cơ tư lợi, trong khoảng thời gian từ ngày 20/3/2023 đến ngày 25/3/2023, tại xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Lê Đình Đ đã có hành vi giới thiệu, đứng ra làm trung gian thỏa thuận lãi với người vay 03 lần để Vũ Duy T và Nguyễn Thị N cho 02 cá nhân vay tiền với số tiền sử dụng để cho vay là 700.000.000đ, lãi suất 146%/năm gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tống số tiền thu lời bất chính cùng với Vũ Duy T và Nguyễn Thị N 103.561.644đ. Trong đó Vũ Duy T thu lời bất chính 72.493.151đ, Nguyễn Thị N thu lời bất chính 31.068.493₫.
Nguyễn Thái S khai nhận: Ngày 03/3/2023 và ngày 04/3/2023 tại thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Thái S đã truy cập vào trang Web: wwl.go.88vn.fun để đánh bạc dưới hình thức cược tài xỉu, với tổng số tiền đánh bạc là 366.712.000đ, trong đó ngày 03/3/2023 đánh bạc số tiền 156.700.000đ, ngày 04/3/2023 đánh bạc số tiền 76.600.000đ.
Xét hành vi của Vũ Duy T đã được cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Thái S truy cập vào trang Web: wwl.go.88vn.fun đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là mỗi lần trên 50.000.000đ nên cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
* Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Duy T: Bị cáo Vũ Duy T và Nguyễn Thị N cho 02 cá nhân vay tiền với số tiền sử dụng để cho vay là 700.000.000đ, lãi suất 146%/năm gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Bị cáo Vũ Duy T thu lời bất chính số tiền 72.493.151₫;
Bị cáo T cho rằng mức hình phạt đối với bị cáo là cao và bị cáo chưa nhận tiền lãi của người vay. Tuy nhiên căn cứ lời khai của bị cáo cũng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Lê Đình Đ và Vũ Duy T cầm cố tài sản của anh Lê Văn H3, ngày 22/3/2023 anh Hậu thế chấp xe ô tô Huyndai vay 300.000.000đ, lãi suất 4.000đ/triệu/ngày, cắt lãi trước 36.000.000đ/tháng;
Ngày 25/3/2023, Lê Văn H3 và Lê Xuân Đ1 cần tiền để giải quyết công việc nên Đ1 và H3 thống nhất cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger của Đ1 để vay 400.000.000đ. H3 nói với Đ1 đang cầm xe i10 nên chuộc xe i10 ra rồi vay thêm 100.000.000đ, Đ1 đồng ý. Sau đó, Lê Văn H3 gọi cho Lê Đình Đ nói với Đ là muốn chuộc xe i10 ra, Đ đồng ý và báo cho T. Tất cả đến Văn phòng Công chứng huyện C1 để hủy hợp đồng mua bán xe i10 ngày 22/3/2023. Sau khi hủy hợp đồng, Lê Văn H3 bảo với Đ và T muốn cầm cố xe Ford Ranger của Đ1 vay 400.000.000đ, thời hạn 01 tháng, lãi suất cắt trước 48.000.000đ/tháng. Tất cả đồng ý và ký hợp đồng mua bán xe ô tô trên. Sau khi ký hợp đồng xong, do H3 chưa trả 300.000.000₫ trước đó nên T chỉ phải đưa thêm cho H3 và Đ1 100.000.000đ, trừ tiền cắt lãi trước 48.000.000đ và 2.000.000đ tiền công chứng hai hợp đồng (tổng cộng 50.000.000₫).
Như vậy, bị cáo T khai chưa được nhận tiền lãi thu lời bất chính và không đúng, vì khi cho anh H3 vay tiền bị cáo đã cắt lãi trước số tiền như đã nêu trên. Do bị cáo thu lời bất chính số tiền 72.493.151đ, nên cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt tiền và áp dụng biện pháp tư pháp, truy thu khoản tiền lãi, tiền cho vay là phù hợp quy định của pháp luật. Do đó kháng cáo của bị cáo T không có cơ sở xem xét.
* Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thái S:
Nguyễn Thái S sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro max đăng ký tài khoản có tên đăng nhập là số điện thoại 0909.308.xxx của S. Sau đó, liên liên kết tài khoản Ngân hàng V1 số 0341006997901 của mình để nạp tiền vào các tài khoản Ngân hàng có sẵn trong trang bạc để chơi, nếu thắng có thể rút tiền về tài khoản. Tỷ giá quy đổi tiền trong game là 100% và là tiền Việt Nam Đ. Nguyễn Thái S đã truy cập vào trang Web: wwl.go88vn.fun. để đánh bạc dưới hình thức cược tài xỉu, cụ thể.
- Ngày 03/3/2023, S đánh bạc tổng số tiền đánh là 156.700.000₫
- Ngày 04/3/2023, S đánh bạc tổng số tiền đánh là 76.600.000₫
Như vậy bị cáo S phạm tội với hai tình tiết định khung đó là T5 dùng để đánh bạc trị giá từ 50.000.000đ trở lên và sử dụng mạng internet, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi phạm tội, theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; Ngoài ra bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ hai lần trở lên, theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt, bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, nhưng bị cáo lại có tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên. Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới đó là Bị cáo có bố được tặng thưởng huân chương kháng chiến và mẹ là thanh niên xung phong, bị cáo tham gtia đóng góp quỹ khuyến học của xã, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được áp dụng theo khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Do bị cáo không thỏa mãn quy định có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51, nên không có căn cứ để xử dưới khung đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng: Tại Điều 3 của Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, quy định về những trường hợp không cho hưởng án treo trong đó trường hợp phạm tội hai lần trở lên. Bị cáo S đã phạm tội hai lần trở lên đối với tội phạm nghiêm trọng, đối chiếu với hành vi phạm tội của bị cáo thì bị cáo không thuộc trường hợp để áp dụng án treo.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên xét thấy kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, vì kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận;
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 109/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Duy T “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Bị cáo Nguyễn Thái S, phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự (áp dụng đối với bị cáo T); Điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự (áp dụng đối với bị cáo S);
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Duy T: 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Bị cáo Nguyễn Thái S: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án và được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến ngày 25/5/2023.
Biện pháp tư pháp:
- Số tiền thu lời bất chính:
- + Buộc bị cáo Lê Đình Đ phải trả cho anh Lê Văn H3: 15.534.000đ. (Hiện bị cáo Đ đã trả số tiền 15.534.000đ cho anh H3 theo giấy nhận tiền ngày 30/11/2023).
- + Buộc bị cáo Vũ Duy T phải trả cho anh Lê Văn H3: 64.725.658đ.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải trả lại cho anh Lê Văn H3: 23.301.000đ. (Hiện bị cáo N đã trả số tiền 23.301.000đ cho anh H3 theo giấy nhận tiền ngày 30/11/2023).
- Khoản tiền gốc: Truy thu sung ngân sách Nhà nước cụ thể như sau:
- + Truy thu của Lê Văn H3: 300.000.000đồng (Khoản tiền vay của N).
- + Truy thu của Lê Văn H3: 400.000.000đồng (Khoản tiền vay của T và Đ).
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm: Truy thu sung ngân sách Nhà nước, cụ thể:
- + Truy thu của Nguyễn Thị N: 3.699.000đ (Hiện bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên lai thu tiền số 0000089 ngày 29/11/2023).
- + Truy thu của Vũ Duy T: 10.274.000đồng.
- + Truy thu của Lê Đình Đ: 2.466.000đ (Hiện bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn theo biên lai thu tiền số 0000090 ngày 29/11/2023).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
* Về án phí: Bị cáo Vũ Duy T và bị cáo Nguyễn Thái S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự phúc thẩm.
* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tân |
Bản án số 63/2024/HSPT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và đánh bạc
- Số bản án: 63/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
