|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 21 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ
- Ông Lê Văn Trường;
- Ông Trần Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Bị cáo Vũ Ngọc T; sinh năm 1987 tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: E4 P8 tập thể Máy tơ, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi sinh sống khi bị bắt: Số C, đường N, Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc X (Vũ Thanh X1) và bà Dương Thị Hải V (đều đã chết); tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2023, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện D từ ngày 03/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo Võ Thiện H; sinh năm 1999 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn I, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thiện C và bà Gín Cún M; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện D từ ngày 02/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phùng Thị Phương D; sinh năm 2003; nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi sinh sống: Tổ dân phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ ngày 02/4/2024, Công an huyện D phối hợp với Công an xã T kiểm tra Phòng số 09, cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch A, thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng phát hiện Võ Thiện H và Phùng Thị Phương D ở trong phòng có biểu hiện liên quan đến ma túy, trên bàn ở trong phòng có 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 đĩa sứ trên đĩa có 01 thẻ căn cước công dân của Võ Thiện H, 01 bật lửa kim loại màu vàng, 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuốn tròn và và 01 tờ tiền 2.000 đồng. Tiến hành xét nghiệm cho kết quả Võ Thiện H và Phùng Thị Phương D đều dương tính với ma túy.
Quá trình làm việc Võ Thiện H khai nhận nhận bản thân nghiện ma túy. Vào khoảng 18 giờ ngày 01/04/2024, Võ Thiện H và Phùng Thị Phương D đến thuê và ở lại phòng số 09 tại cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch A số 06, thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khoảng 23 giờ ngày 01/4/2024, H sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone XS gắn sim số 0379.763.xxx của mình liên lạc bằng ứng dụng zalo hỏi mua của Vũ Ngọc T 3.000.000 đồng ma túy loại Ketamine. Sau đó H đến khu vực quán K ở đường N, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng mua được 3.000.000 đồng ma túy của T. H mang theo ma túy về phòng số 09 A, lấy một phần ma túy mua được đổ trên tờ tiền 2.000 đồng đặt vào đĩa sứ màu trắng và dùng bật lửa đốt nóng, dùng thẻ căn cước công dân cà phẳng ma túy trên đĩa sứ, dùng 01 tờ tiền 10.000 đồng cuốn tròn lại hít ma túy trên đĩa sứ. Sau đó H đưa chiếc đĩa có chứa ma túy cho D sử dụng và hai người lần lượt sử dụng hết số ma túy có trên đĩa sứ. Số ma túy còn lại đựng trong túi nylon H để trên bàn. Đến khoảng 17 giờ ngày 02/04/2024 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ 01 gói ma túy cùng các vật dụng sử dụng ma túy.
Quá trình điều tra H giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS gắn sim số 0379.763.xxx là phương tiện H sử dụng liên lạc với T để mua ma túy. Chị Phùng Thị Phương D khai bản thân không liên quan đến việc H mua bán, tàng trữ ma túy nhưng thừa nhận được H cho D sử dụng ma túy như H đã khai ở trên.
Vào lúc 01 giờ ngày 03/4/2024, Công an huyện D phát hiện Vũ Ngọc T đang ở quán K tại số C, đường N, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Tiến hành kiểm tra thu giữ được trong túi quần của Vũ Ngọc T đang mặc trên người một vỏ bao thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS bên trong có 08 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng. Quá trình làm việc với cơ quan Công an, Vũ Ngọc T khai nhận bản thân nghiệm ma túy. Vào ngày 29/3/2024, T đón xe khách đến Bến xe Đ tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng mua của người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 24.000.000 đồng ma túy loại Ketamine mang về chia thành 11 gói nhỏ. Từ ngày 29/3/2024 đến ngày 01/4/2024 T sử dụng hết 02 gói ma túy. Vào khoảng 23 giờ ngày 01/4/2024 H liên lạc bằng zalo đến điện thoại di động của T hỏi mua ma túy, sau khi thống nhất với nhau T đã bán cho H 01 gói ma túy được 3.000.000 đồng tại khu vực quán K, 08 gói ma túy còn lại T bỏ vào trong bao thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS cất giấu trong người để bán kiếm lời thì bị Công an phát hiện bắt giữ. T tự nguyện nộp cho cơ quan Công an số tiền 3.000.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho H và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0949.618.021 là phương tiện T liên lạc để bán ma túy cho H.
Quá trình giải quyết vụ án, Công an huyện D đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và H, đồng thời thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng liên quan; tiến hành thực nghiệm hiện trường về hành vi T bán ma túy cho H và về hành vi H cung cấp ma túy cho D sử dụng. Tiến hành trưng cầu giám định đối với chất tinh thể màu trắng trong các gói nylon thu giữ của T và Hòa kết quả như sau:
Đối với 01 gói nylon thu giữ của Võ Thiện H: Tại kết luận giám định số 432/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,1887g (một phẩy một tám tám bảy gam), loại Ketamine.
Đối với 08 gói nylon thu giữ của Vũ Ngọc T: Tại kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M) đựng trong 08 (tám) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,8607g (tám phẩy tám sáu không bảy gam), loại Ketamine.
- Tại bản Cáo trạng số: 63/CTr-VKS ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Vũ Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Võ Thiện H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
- Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc T thừa nhận bản thân đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Võ Thiện H thừa nhận phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng đã nêu. Chị Phùng Thị Phương D thừa nhận đã sử dụng ma túy do H cung cấp tại phòng số 09 tại cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch A, thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 01/4/2024.
- Thực hiện quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện D, tỉnh Lâm Đồng khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Võ Thiện H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý như sau:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thiện H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 24 đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội theo Điều 55 của Bộ luật hình sự.
+ Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc là hiệu SEVEN DIAMONDS thu giữ của bị cáo Vũ Ngọc T, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa kim loại màu vàng thu giữ của Võ Thiện H và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng; tịch thu sung công quỹ của Vũ Ngọc T 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0949.618.021, của Võ Thiện H 12.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS gắn sim số 0379.763.xxx. Trả cho bị cáo Võ Thiện H 01 thẻ căn cước công dân.
+ Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ, niêm phong đồ vật bị tạm giữ; phiếu xét nghiệm chất ma túy; Biên bản xác định hiện trường vụ án và sơ đồ, bản ảnh kèm theo; các kết luận giám định số 432 và 433 ngày 08/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L. Qua đó có cơ sở xác định như sau:
[2.1] Về hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T: Vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 01/4/2024 tại khu vực quán K số C, đường N, Tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo Vũ Ngọc T đã bán cho bị cáo Võ Thiện H 01 gói ma túy loại Ketamine, số ma túy còn lại sau khi Võ Thiện H và Phùng Thị Phương D đã sử dụng còn lại là 1,1887 gam Ketamine. Ngoài ra, vào lúc 01 giờ ngày 03/4/2024 bị cáo Vũ Ngọc T còn cất giấu 8,8607gam ma túy loại Ketamine với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[2.2] Về hành vi của bị cáo Võ Thiện H: Sau khi mua được 01 gói ma túy loại Ketamine của bị cáo T. Bị cáo H đã sử dụng ma túy và cung cấp ma túy cho Phùng Thị Phương D cùng sử dụng vào đêm ngày 01/4/2024 tại Phòng số 09, cơ sở kinh doanh lưu trú du lịch A, thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng do H thuê. Ngoài ra H còn cất giấu số ma túy còn lại với khối lượng 1,1887 gam loại Ketamine với mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Tình hình tội phạm về ma túy tại địa phương hiện nay có diễn biến phức tạp và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống bình thường một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Bị cáo T đã bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo H bị xét xử cùng một lần về hai tội nên cần quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phùng Thị Phương D đã bị Công an huyện D ban hành quyết định xử phạt hành chính số 07/QĐ-XPHC ngày 30/4/2024 là phù hợp.
[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo T có tên “T1” không có thông tin đầy đủ và chưa xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp. Đối với 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa kim loại màu vàng, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu SEVEN DIAMONDS và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của Vũ Ngọc T có được từ việc bán ma túy cho H, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0949.618.021 Vũ Ngọc T sử dụng liên lạc với H để bán ma túy, 01 tờ tiền 2.000 đồng và 01 tờ tiền 10.000 đồng H dùng để sử dụng ma túy, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS gắn sim số 0379.763.xxx H dùng để liên lạc với T để mua ma túy cần tịch thu sung công quỹ. Đối với 01 thẻ căn cước công dân của bị cáo Võ Thiện H cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[5] Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2024.
- Tuyên bố bị cáo Võ Thiện H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thiện H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Võ Thiện H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 4 năm 2024.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa kim loại màu vàng, 01 vỏ bao thuốc là hiệu SEVEN DIAMONDS và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng.
- Tịch thu của bị cáo Vũ Ngọc T 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus gắn sim số 0949.618.021 để sung công quỹ.
- Tịch thu của bị cáo Võ Thiện H 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS gắn sim số 0379.763.xxx để sung công quỹ.
- Trả cho bị cáo Võ Thiện H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Võ Thiện H.
(Toàn bộ tiền và vật chứng nêu trên đã được Công an huyện D bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/8/2024)
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Vũ Ngọc T và bị cáo Võ Thiện H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Sỹ |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Thiện H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Vũ Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
