TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/DS-PT Ngày 19-6-2025 V/v “Tranh chấp đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Công
Ông Lại Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1956;
Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1964;
Cùng nơi cư trú: Xóm P, thôn S, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Có mặt bà Lê Thị P, bà Lê Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê Thị P trình bày:
Do mối quan hệ quen biết nên bà N có tham gia chơi phường tiền do bà là chủ phường, gồm 14 hội phường tiền, vàng (còn gọi là bát phường), cụ thể:
Phường thứ 1: Tổng 1,5 chỉ vàng. Chơi từ ngày 15/12/2019 đến ngày 15/04/2022. Gồm 15 xuất, mỗi xuất 1 chỉ vàng, quy ra thành tiền để đóng. Bà N chơi 01 xuất (bà rút (mua) số 4), bà N đóng 13 xuất, còn 02 xuất chưa đóng, nay còn nợ bà thành tiền: 10.600.000 đồng.
Phường thứ 2: Tổng số tiền 78 triệu đồng: Chơi từ ngày 10/09/2020 đến ngày 10/10/2022. Gồm 26 xuất, mỗi xuất 03 triệu.
Bà N chơi 02 xuất, đóng được 19 xuất, còn 08 xuất chưa đóng.
Đã rút: Xuất 1 rút (mua) ngày 10/09/2020 được 54.808.000 đồng. Còn nợ bà 22.966.000 đồng.
Phường thứ 3: Phường vàng. Tổng 14,5 chỉ vàng quy ra tiền để đóng. Chơi từ ngày 20/02/2015 đến hết tháng 03/2022. Gồm 29 xuất, mỗi xuất 0,5 chỉ (3 tháng đóng 01 lần), bà N chơi 2 xuất.
Bà N chơi 02 xuất, đóng được 28 xuất, còn 01 xuất chưa đóng.
Xuất 1 rút (mua) ngày 20/05/2015 được 30.653.000 đồng. Còn nợ: 01 số 2.728.000 đồng.
Xuất 2 rút (mua) ngày 20/11/2015 được 30.334.000 đồng. Còn nợ: 01 số 2.728.000 đồng.
Số tiền của hội phường vàng số 3 là 2.728.000 + 2.728.000 = 5.456.000 đồng.
Phường thứ 4: Phường tiền. Tổng số tiền 54 triệu đồng: Chơi từ ngày 10/07/2020 đến tháng 09/2022. Gồm 27 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 02 xuất, đã rút: Lấy số 2 (mua) ngày 10/08/2020 được 38.232.000 đồng, đã đóng 21 xuất, còn 07 xuất chưa đóng, còn nợ 13.241.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 10/09/2020 được 38.799.000 đồng, đã đóng 21 xuất, còn 06 xuất chưa đóng, còn nợ 11.246.000 đồng.
Từ ngày 10/03/2022 bà N không đóng cụ thể bà phải trả cho tôi:
Số Tiền của hội số 4 này là: 13.241.000 + 11.246.000 = 24.487.000 đồng
Phường thứ 5: Phường tiền. Tổng số tiền 70 triệu: Chơi từ ngày 10/03/2020 đến tháng 10/2022. Gồm 35 xuất, mỗi xuất 02 triệu.
Bà N chơi 01 xuất, đã rút: Lấy số 1 (mua) ngày 10/03/2020 được 50.750.000 đồng, còn nợ 10 xuất, tổng 18.900.000 đồng.
Phường thứ 6: Phường tiền. Tổng số tiền 68 triệu, chơi từ ngày 10/04/2021 đến tháng 02/2023. Gồm 34 xuất, mỗi xuất 2 triệu. Bà N chơi 02 xuất đã rút:
Lấy số 2 (mua) ngày 10/05/2020 được 45.458.000 đồng, còn 12 xuất chưa đóng, còn nợ 22.741.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 10/06/2021 được 47.430.000 đồng, còn 11 xuất chưa đóng, còn nợ 21.035.000 đồng.
Tổng 2 số bà N còn nợ bà 22.741.000 + 21.035.000 = 43.776.000 đồng
Phường thứ 7: Phường tiền. Tổng 50 triệu đồng: Chơi từ ngày 15/12/2020 đến tháng 12/2022. Gồm 25 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 02 xuất đã rút:
Lấy số 1 (mua) ngày 15/12/2020 được 34.900.000 đồng, còn nợ 10 xuất tổng 18.296.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 15/02/2021 được 35.900.000 đồng, còn nợ 18 xuất tổng 14.758.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng cho bà, nay còn nợ bà 18.296.000 + 14.758.000 = 33.054.000 đồng
Phường thứ 8: Phường tiền. Tổng 60 triệu đồng, chơi từ ngày 15/05/2021 đến tháng 09/2023. Gồm 30 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 03 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 1 (mua) ngày 15/05/2021 được 41.340.000 đồng, còn nợ 20 xuất, tổng là 35.084.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 15/07/2021 được 40.590.000 đồng, còn nợ 18 xuất tổng là 31.750.000 đồng.
Lấy số 4 (mua) ngày 15/08/2021 được 40.500.000 đồng, còn nợ 16 xuất tổng là 26.749.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng cho bà, còn nợ bà: 35.084.000 + 31.750.000 + 26.749.000 = 93.583.000 đồng.
Phường thứ 9: Phường tiền: Tổng số tiền 50 triệu, chơi từ ngày 15/07/2021 đến tháng 06/2023. Gồm 25 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 05 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 3 (mua) ngày 15/09/2021 được 33.500.000 đồng, còn 17 xuất chưa đóng, còn nợ 30.544.000 đồng.
Lấy số 4 (mua) ngày 15/10/2021 được 34.950.000 đồng, còn 16 xuất chưa đóng, còn nợ 28.884.000 đồng.
Lấy số 7 (mua) ngày 15/01/2022 được 36.300.000 đồng, còn 13 xuất chưa đóng, còn nợ 23.844.000 đồng.
Lấy số 14 (mua) ngày 20/08/2022 được 42.750.000 đồng, đóng luôn tháng 12 số tiền là 41.227.000 đồng, còn thừa 2.448.000 đồng, còn 6 xuất chưa đóng trừ vào 2.448.000 đồng thừa, còn nợ 9.122.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng cho bà, bà N còn nợ bà 30.544.000 + 28.884.000 + 23.844.000 + 25.454.000 + 9.122.000 = 117.848.000 đồng.
Phường thứ 10: Phường tiền, tổng số tiền 68 triệu đồng, chơi từ ngày 10/04/2021 đến tháng 12/2023. Gồm 34 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 02 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 2 (mua) ngày 10/05/2021 được 45.458.000 đồng, còn 23 xuất chưa đóng, còn nợ 40.714.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 10/06/2021 được 47.430.000 đồng, còn 22 xuất chưa đóng, còn nợ 37.422.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng còn nợ bà 40.714.000 + 37.422.000 = 78.136.000 đồng.
Phường thứ 11: Phường tiền; tổng số tiền 40 triệu dồng, chơi từ ngày 05/11/2021 đến tháng 05/2022. Gồm 20 xuất, mỗi xuất 02 triệu. Bà N chơi 03 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 1 (mua) ngày 05/11/2021 được 25.940.000 đồng, còn 15 xuất chưa đóng, còn nợ 26.570.000 đồng.
Lấy số 3 (mua) ngày 05/12/2021 được 29.500.000 đồng, còn 14 xuất chưa đóng, còn nợ 25.020.000 đồng.
Lấy số 4 (mua) ngày 05/01/2022 được 29.500.000 đồng, còn 13 xuất chưa đóng, còn nợ 23.620.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng cụ thể bà phải trả cho bà: 26.570.000 + 25.020.000 +23.620.000 = 75.210.000 đồng.
Phường thứ 12: Phường tiền. Tổng số tiền 46 triệu, chơi từ ngày 15/12/2021 đến tháng 09/2023. Gồm 23 xuất, mỗi xuất 02 triệu, bà N chơi 03 xuất đã rút cụ thể:
Lấy số 3 (mua) ngày 15/02/2022 được 31.257.000 đồng, còn 18 xuất chưa đóng, còn nợ 31.916.000 đồng.
Lấy số 4 (mua) ngày 15/03/2022 được 32.958.000 đồng, còn 17 xuất chưa đóng, còn nợ 30.016.000 đồng.
Lấy số 6 (mua) ngày 15/05/2022 được 32.729.000 đồng, còn 16 xuất chưa đóng, còn nợ 29.070.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng còn phải trả cho bà là: 31.916.000 + 30.016.000 + 29.070.000 = 91.002.000 đồng
Phường thứ 13: Phường tiền. Tổng 20 triệu đồng, chơi từ ngày 15/10/2021 đến tháng 09/2022. Gồm 20 xuất, mỗi xuất 01 triệu. Bà N chơi 02 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 1 (mua) ngày 15/10/2021 được 13.260.000 đồng, còn 15 xuất chưa đóng, còn nợ 13.038.000 đồng.
Lấy số 2 (mua) ngày 15/11/2021 được 13.000.000 đồng, còn 14 xuất chưa đóng, còn nợ 11.738.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng còn phải trả cho bà 13.038.000 + 11.738.000 = 24.776.000 đồng.
Phường thứ 14. Phường tiền, tổng số tiền 20 triệu, chơi từ ngày 15/12/2021 đến tháng 06/2022. Gồm 20 xuất, mỗi xuất 01 triệu. Bà N chơi 02 xuất, đã rút cụ thể:
Lấy số 1 (mua) ngày 15/12/2021 được 15.000.000 đồng, còn 14 xuất chưa đóng, còn nợ 13.436.000 đồng.
Lấy số 9 (mua) ngày 15/08/2022 được 16.760.000 đồng trả vay phường 53.500.000 - 16.760.000 = còn nợ 36.740.000 đồng, còn 13 xuất chưa đóng, còn nợ 15.084.000 đồng. Tổng = 36.740.000 đồng +15.084.000 đồng = 51.824.000 đồng.
Từ ngày 15/03/2022 bà N không đóng cho bà, còn nợ: 51.824.000 + 13.436.000 = 65.260.000 đồng.
Sau khi bà N không đóng tiền phường cho bà nên ngày 28/7/2022 bà và bà N đã thống nhất và chốt nợ, tổng số tiền bà N còn nợ bà là 686.761.000 đồng, bà N đã ký nhận vào đơn xác nhận nợ ngày 28/7/2022. Nay bà yêu cầu bà N phải trả bà phường tiền, vàng quy ra tiền của 14 hội phường là 686.761.000 đồng, bà không yêu cầu lãi suất.
* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn là bà Lê Thị N trình bày:
Bà thừa nhận có chơi hội phường tiền, vàng quy ra tiền để đóng cho bà P gồm 14 hội như bà P khai trên là đúng, bà đã rút và đã đóng phường đầy đủ cho bà P. Việc rút (mua) và đóng tiền phường cho bà P đều đưa tay không có ký nhận giấy tờ gì và không nhớ ngày tháng năm nào đóng cả, không có ai chứng kiến, đến nay bà không còn nợ tiền phường bà P.
* Do bà Lê Thị N không thừa nhận chữ ký, chữ viết của bà trong sổ có danh sách những người chơi phường và trong đơn xác nhận nợ tiền ngày 28/07/2022 nên ngày 29/08/2024, bà P có đơn đề nghị giám định chữ ký, chữ viết của bà N trong sổ có danh sách những người chơi phường và giấy xác nhận nợ tiền ngày 28/07/2022.
Ngày 29/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bà Lê Thị N; cụ thể:
Mẫu M1 “Bản tự khai” ngày 16/04/2024 (Bản chính); Mẫu M2 “Biên bản giao nhận chứng cứ” ngày 16/04/2024 (Mẫu M2); “Biên bản hòa giải” ngày 03/06/2024 (Mẫu M3); “Biên bản đối chất” ngày 25/06/2024 (Mẫu M4) có dấu của TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định có chữ “Ngà”; “Lê Thị N”, (Mẫu để so sánh).
Mẫu (M5) là 01 tờ giấy có ghi Đơn xác nhận nợ tiền ngày 28/7/2022 tức ngày 30/6 âm lịch (Bản chính); Mẫu (M6) là 01 tờ giấy có ghi Bản cam kết có chữ “Ngà” và M (M7) là 14 tờ giấy có số mục lục từ 1-14 (Bản chính), (Mẫu cần giám định ).
Tại Bản kết luận giám định số 132/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N đã kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Thị N trên mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2); Chữ ký, chữ viết tại dòng 5,7,8 từ dòng 10 đến dòng 17 góc phía dưới bên phải trên mẫu so sánh (Ký hiệu M3); Chữ ký, chữ viết dưới mục “Các đương sự tham gia đối chất” (trừ chữ viết tên bà Lê Thị P) trên mẫu so sánh (ký hiệu M4); Chữ viết từ mục 5 đến mục 16, chữ ký “Ngà” dưới mục “người khai ký tên” trên mẫu so sánh (ký hiệu M5) là do cùng một người ký, viết ra.
Từ nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã quyết định:
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 24; Điều 25 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về Họ, H, B, P1; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P; buộc bà Lê Thị N phải có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị P tổng số tiền là 686.761.000 đồng (Sáu trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị P đối với khoản tiền bà Lê Thị N phải trả cho bà Lê Thị P cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên. Hàng tháng bà Lê Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/01/2025, bà Lê Thị N làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án nói trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Bà N có quan điểm bà không nợ bà P, bà cũng không ký vào bản cam kết, đơn xác nhận nợ tiền; tất cả do bà P tự viết, tự ký; đối với chữ ký của bà trong bản cam kết, đơn xác nhận nợ tiền bà cũng không phản bác kết luận giám định là sai. Bà P có quan điểm xác định bà N còn nợ bà số tiền là 686.761.000 đồng và đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
- Về nội dung:
+ Đối với số tiền nợ 686.761.000 đồng bà P yêu cầu bà N trả thì bà P cung cấp được giấy nhận nợ có chữ ký của bà N nhưng bà N không công nhận đấy là chữ ký của bà. Tại Kết luận giám định ngày 25/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N kết luận: “Chữ ký, chữ viết trong bản tự khai, bản giao nộp chứng cứ của bà N và chữ ký, chữ viết của bà N trong giấy xác nhận nợ tiền ngày 28/7/2022 và danh sách nợ do bà P giao nộp để giám định là do một người viết ra”. Vì vậy, đủ căn cứ để chứng minh việc bà N còn nợ bà P số tiền 686.761.000 đồng. Từ các phân tích trên, nhận thấy bản án sơ thẩm buộc bà N trả bà P khoản tiền 686.761.000 đồng là có căn cứ.
+ Về tính án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 3 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì đây là vụ án dân sự có giá ngạch. Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bà N nộp án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch là không đúng với quy định pháp luật, làm thất thoát ngân sách nhà nước.
Do đó, kháng cáo của bà Lê Thị N không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N, sửa bản án sơ thẩm về án phí.
+ Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Lê Thị N được làm trong thời hạn luật định nên được HĐXX chấp nhận và xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung kháng cáo của bà Lê Thị N:
[2.1] Trong khoảng thời gian từ ngày 15/12/2019 đến tháng 12/2023, bà Lê Thị N đã chơi 14 hội phường tiền, vàng do bà Lê Thị P làm chủ phường. Bà Lê Thị N cũng thừa nhận có tham gia chơi 14 hội phường (bát phường) tiền, vàng quy ra tiền do bà P là chủ phường như bà P trình bày là đúng. Như vậy, việc bà N có tham gia chơi 14 hội phường (bát phường) do bà P là chủ phường là có thật.
Quá trình tham gia tố tụng tại cấp sơ thẩm, bà Lê Thị P trình bày do bà N không đóng tiền phường cho bà nên ngày 28/7/2022, giữa bà và bà N đã thống nhất và chốt nợ theo đơn xác nhận nợ tiền ngày 28/07/2022 với tổng số tiền bà N còn nợ bà là 686.761.000 đồng, bà N đã ký nhận. Bà Lê Thị N cho rằng bà đã rút và đã đóng phường đầy đủ cho bà P; tuy nhiên, việc rút (mua) và đóng tiền phường cho bà P đều đưa tay, không có ký nhận giấy tờ gì, không có ai chứng kiến và bà không nhớ thời gian đóng tiền phường cho bà P và không đưa ra được căn cứ để chứng minh cho việc trả nợ của mình.
Do có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự nên Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định trưng cầu giám chữ ký, chữ viết của bà Lê Thị N.
Tại Bản kết luận giám định số 132/KL-KTHS ngày 25/10/ 2024 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh N đã kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Thị N trên mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2); chữ ký, chữ viết tại dòng 5,7,8 từ dòng 10 đến dòng 17 góc phía dưới bên phải trên mẫu so sánh (Ký hiệu M3); chữ ký, chữ viết dưới mục “Các đương sự tham gia đối chất” (trừ chữ viết tên bà Lê Thị P) trên mẫu so sánh (ký hiệu M4); Chữ viết từ mục 5 đến mục 16, chữ ký “Ngà” dưới mục “người khai ký tên” trên mẫu so sánh (ký hiệu M5) là do cùng một người ký, viết ra.
Vì vậy, HĐXX xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P; buộc bà Lê Thị N phải có trách nhiệm trả bà Lê Thị P tiền phường, vàng đã quy ra tiền với tổng số tiền là 686.761.000 đồng (Sáu trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) là có căn cứ.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bà Lê Thị N có văn bản trình bày ý kiến cho rằng: Tại Kết luận giám định số 132/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh N đã ghi: “- 01 (Một): “Đơn xác nhận nợ tiền nợ tiền” đề ngày 28/7/2022 (tức 30/6 âm lịch). Trên có nội dung: “bác Lê Thị N (K) nợ tiền PHường của cô Lê Thị P (Nguyên)... Sáu mốt nghìn” được viết bằng mực màu xanh, đen. (Ký hiệu A2)”. Tuy nhiên, tại giấy xác nhận nợ tiền ngày 28/7/2022 (Ký hiệu A2), dòng 25, 26 thể hiện “bà Lê Thị Ngà K nợ 686.761.000 (Sáu trăm tám mốt triệu, bảy trăm sáu mốt nghìn”. Vì vậy, bà Lê Thị N cho rằng hai đơn số nợ khác nhau hoàn toàn, không khớp nhau, không đúng. Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã có Công văn số 73/2025/TA-DS ngày 19/5/2025 gửi Phòng K1 - Công an tỉnh N để giải thích nội dung thắc mắc nói trên của bà Lê Thị N.
Tại Công văn số 350/CV-PC09 ngày 26/5/2025, Phòng K1 - Công an tỉnh N đã trả lời: Đây là cách mô tả mẫu cần giám định của Giám định viên và các mô tả của Giám định viên là hoàn toàn chính xác, không ảnh hưởng đến nội dung kết luận giám định. Mặc khác, kết luận giám định trên chỉ là kết luận truy nguyên người viết so với mẫu so sánh, không kết luận nội dung của mẫu cần giám định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Lê Thị N cũng không xuất trình được tài liệu nào thể hiện việc bà N đã đóng phường đầy đủ và trả nợ cho bà P.
[3] Từ nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị N.
[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị buộc bà Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Căn cứ khoản 3 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Vụ án dân sự có giá ngạch là vụ án mà trong đó yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể”. Bà P đã khởi kiện yêu cầu bà N phải trả 686.761.000 đồng là một số tiền cụ thể. Như vậy, đây là vụ án dân sự có giá ngạch. Do yêu cầu khởi kiện của bà P được chấp nhận nên bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Vì vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ. Tại phiên tòa, bà N có đơn xin miễn án phí với lý do bà N là người cao tuổi nên HĐXX sẽ miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà N là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về án phí phúc thẩm: Bà N là người cao tuổi và có đơn nên HĐXX sẽ xem xét miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P: Buộc bà Lê Thị N phải có trách nhiệm trả cho bà Lê Thị P tổng số tiền là 686.761.000 đồng (Sáu trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị P cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, bà Lê Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định về phần án phí:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị N.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Lê Thị N; hoàn trả cho bà Lê Thị N số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm số 0004193 ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Dũng |
Bản án số 63/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 63/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án DS-PT về việc "Tranh chấp đòi tài sản"
