Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 6 năm 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thêu
  • 2. Ông Nguyễn Ngọc Vịnh

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Chương - thư ký Toà án nhân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện VKSND tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐSXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 53/2025/QĐ-ST ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1983

    Địa chỉ: SN A, đường N, tổ A, phường Q, TP T, tỉnh Thái Bình.

  2. Bị đơn: anh Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 05/11/1975

    Nơi ĐKHKTT: số nhà D, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

    Hiện đang ở nước ngoài.

  3. Người làm chứng: - Bà Lê Thị D, sinh năm 1952

    Địa chỉ: số nhà D, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 26/12/2006

Địa chỉ: SN A, đường N, tổ A, phường Q, TP T, tỉnh Thái Bình.

(chị T xin xét xử vắng mặt; anh T1, bà D và cháu Ngọc A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày: chị và anh T1 tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố T vào ngày 19/6/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, năm 2022 anh T1 đi lao động ở Đài Loan, chị và anh T1 vẫn liên lạc qua điện thoại nhưng anh T1 cố tình không cho chị biết địa chỉ hiện nay. Chị xác định không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.

Về con chung: chị và anh T1 có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 26/12/2006 và Nguyễn Tiến D1, sinh ngày 30/7/2015, hiện cả hai con đang ở cùng chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Tiến Dừng, không yêu cầu anh T1 góp tiền cấp dưỡng nuôi con, con Ngọc A đã trưởng thành tự lo được cuộc sống nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Con chung Nguyễn Tiến D1 có nguyện vọng được ở với chị T.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổng đạt hợp lệ các văn bản nhưng anh T1 không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Người làm chứng bà Lê Thị D là mẹ đẻ anh T1 trình bày: sau khi kết hôn anh T1, chị T thuê nhà ở riêng, đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế; về con chung anh chị có hai con chung hiện nay đang ở với chị T. Bà đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định của pháp luật. Bà từ chối ký biên bản và làm việc với Toà án trong các lần tiếp theo vì không muốn liên quan đến việc này.

Cháu Nguyễn Ngọc A trình bày: sau khi anh T1 đi nước ngoài, giữa chị T và anh T1 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, gọi điện xúc phạm đến nhau. Thời gian gần đây khi biết Toà án đang giải quyết việc ly hôn, thỉnh thoảng anh T1 gọi cho chị T qua zalo, hai bên lời qua tiếng lại xảy ra cãi vã.

Công văn số 290/PA08 ngày 08/4/2025 của Phòng Q- Công an tỉnh T cung cấp: anh Nguyễn Thanh T1 xuất cảnh lần đầu qua SBQT Nội Bài ngày 03/10/2022 bằng hộ chiếu số P00226445. Hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Kết quả xác minh tại UBND phường Q, thành phố T: anh T1, chị T không chung sống với bà D nên về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, địa phương không biết được. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh T1; về con chung giao con chung Nguyễn Tiến D1 cho chị chị T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh T1 góp tiền cấp dưỡng nuôi con; con Ngọc A đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản và nợ chung không giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

  • [1] Chị Nguyễn Thị Thu T khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Thanh T1 hiện đang cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • [2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • [3] Nguyên đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

  • [4] Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh T1 tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thành phố T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Năm 2020 anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về kinh tế, qua lời khai của bà D, cháu Ngọc A cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị T được ly hôn anh T1.

  • [5] Về con chung: hiện anh T1 đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung Nguyễn Tiến D1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về việc không yêu cầu anh T1 góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Cháu Nguyễn Ngọc A đã trưởng thành nên không đặt ra giải quyết.

  • [6] Về tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có, Toà án không ghi được lời khai của anh T1 nên không giải quyết trong vụ án này.

  • [7] Về án phí: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

  • - Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1.

2.Về con chung: giao con chung Nguyễn Tiến D1, sinh ngày 30/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh T1 góp tiền cấp dưỡng nuôi con, anh T1 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Anh T1 và chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản và nợ chung: không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000456 ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, anh Nguyễn Thanh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Quang Trung;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 13/6/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger