Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 63/2025/HSST

Ngày 09/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thái

2. Ông Trần Văn Vinh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Sơn Dũng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Tô Thu Thủy- Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS, ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Đồng Văn N, sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố Đồng Văn C sinh năm 1963; Họ và tên mẹ Đồng Thị C1, sinh năm 1969; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2; Theo danh chỉ bản số 36 lập ngày 17/01/2025 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

Tại quyết định số 45/QĐ-TA ngày 04/7/2022, Nghĩ bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an Thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 ngày 09/01/2025, Đồng Văn N (Sinh năm: 1999; Nơi ĐKNKTT: bản N, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái) đi bộ đến khu vực cầu V thuộc thị trấn V, huyện T, Hà Nội gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Người đàn ông đưa cho Nghĩ 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng, N cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ L để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nghĩ có 01 gói nilon chứa chất bột màu trắng, tại chỗ N khai nhận đây là ma túy Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa Nghĩ về trụ sở để làm việc. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Đồng Văn N thể hiện dương tính với ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói nilon chứa chất bột màu trắng thu giữ của Nghĩ. Tại bản Kết luận giám định số 752 ngày 18/01/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,160 gam. Cơ quan giám định sử dụng hết 0,02 gam để giám định, còn lại 0,140 gam sau khi giám định hoàn trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 30/CT-VKSTT ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đồng Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015;

Đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Văn N mức án từ 25 tháng đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/01/2025.

Về hình phạt bổ sung:

Do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng.

Về xử lý vật chứng:

Cho tiêu hủy số ma túy có tại phong bì niêm phong bên trong có 0,140 gam Heroin còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đồng Văn N: Nghĩ khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nên không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tại đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội, tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang Đồng Văn N tàng trữ trái phép 0,160 gam Heroin để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính buộc cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm 12 tháng do đó HĐXX xác định bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần xử nghiêm khắc.

Khi lượng hình HĐXX thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép lượng ma túy 0,160 gam Heroin để sử dụng, tuy số lượng ma túy thấp nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Mặc dù được cải tạo, giáo dục về ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử nghiêm trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

[4] Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy số ma túy là H còn lại sau khi trừ đi mẫu đã giám định, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đồng Văn N: Nghĩ khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, nên không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đồng Văn N 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/01/2025.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo

4. Về vật chứng:

Cho tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa chất ma túy loại Heroin (0,140 gam còn lại sau giám định theo quyết định chuyển vật chứng) bên ngoài có chữ ký của Đồng Văn N, giám định viên Trần Ngọc C2 và Đào Xuân T cán bộ công an thị trấn V.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/2/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)

5. Về án phí và Q kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Hồng Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HSST ngày 09/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nghĩ Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger