TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:63/2025/HS - ST Ngày 25/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân. 1. Ông Nguyễn Duy Kiên
2. Ông Nguyễn Văn Vĩ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 25/03/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2024/TLST-HS ngày 25/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, đối với:
1. Các bị cáo:
- Họ và tên: Lâm Minh Ngọc Đ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2004, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: Khu V, Phường C, Quận Ô, TP Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Lâm Minh H, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Trần Thị Ngọc Y, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/04/2024 (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Hoàng Thị Hoài L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Tổ A, Khu Phố K, phường T, TP T, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Hoàng Hữu Q, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Trần Thị X, sinh năm 1964; Chồng: HUANG KUI, sinh năm 1992 (quốc tịch Trung Quốc - đã ly hôn); Có 01 con sinh ngày 14/11/2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/04/2024 đến ngày 12/04/2024 (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lâm Nhã T; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2003, tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp I, xã T, huyện G, tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Lâm Út T1, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Diệp Thị Á, sinh năm 1983; có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáobị tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến 12/4/2024, hiện nay đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Hoàng L1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: A khu phố A, Phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Huy H1, sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Trần Thị Ngọc P, sinh năm 1963; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- + Năm 2011 bị Công an phường P, quận T, TP Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng có mang theo hung khí, mức phạt là 1.500.000đ, nộp phạt ngày 16/10/2024).
- + Bản án Hình sự phúc thẩm số 153/2015/HSPT ngày 20/11/2015, TAND tỉnh Tiền Giang xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (đã được xóa án).
- Họ và tên: Trương Kim P1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Khu V, phường E, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Trương Văn T2, sinh năm 1962; Họ và tên mẹ: Lý Thị Mộng T3 (Đã chết); Họ và tên chồng: Trang Thanh T4, sinh năm 1992 (Đã ly hôn); Có 05 con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh ngày 19/5/2024); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện nay đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lê Thị Thúy N; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã C, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Lê Thành S, sinh năm 1967; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1975; Họ và tên chồng: Họ và tên chồng: Yang D, sinh năm 1985(quốc tịch Trung Quốc); Có 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/5/2024 (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: P2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Số F, Tổ B, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 5/12; Họ và tên cha: Phẩm H, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1977; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/5/2024 (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Đặng Phi H2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983, tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: A chung cư A, Khu V, phường B, quận C, TP Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Đặng Văn H3, sinh năm 1943; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1947; Họ và tên vợ: Đặng Thị M, sinh năm: 1988 (Đã ly hôn năm 2020); Có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện nay đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
2. Người bị hại: Anh Lin Yu T6, sinh năm 1975(Quốc tịch Trung Quốc); trú tại: Số C, Tập đoàn X1, làng X, thị trấn G, huyện Y, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc (Có mặt tại phiên tòa).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lin K, sinh năm 1991(Quốc tịch Trung Quốc); trú tại: số A, tổ H, thôn T, thị trấn C, khu V, Thành phố L, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc (Vắng mặt tại phiên tòa).
4. Người phiên dịch: Bà Trần Thị Hương G1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: K, xã P, S, Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Lê Thị Thúy N, đã từng lấy chồng và sinh sống tại Trung Quốc nên có khả năng giao tiếp bằng tiếng Trung Quốc. Thông qua mối quan hệ với người Trung Quốc, N đã gặp và quen biết với anh Lin Y1 (quốc tịch Trung Quốc). Khoảng đầu tháng 02 năm 2024, anh L2 YuTai nhờ N tìm và mai mối lấy vợ Việt Nam cho cháu trai tên là Lin K (quốc tịch Trung Quốc). Anh L2 YuTai thỏa thuận với N nếu tìm được người phù hợp giới thiệu kết hôn với anh Lin K thì anh L2 YuTai sẽ đưa cho N 10.000 Nhân dân tệ; xuất trình được giấy độc thân đưa thêm 30.000 Nhân dân tệ; khi nhận được đăng ký kết hôn đưa thêm 60.000 Nhân dân tệ.
Từ ngày 01/3/2024 đến 04/3/2024, anh Lin Yu T6 đã chuyển cho N tổng số tiền là 356.448.000 đồng, cụ thể: Anh L2 YuTai nhờ bạn và trực tiếp đến ngân hàng chuyển 326.448.000đ vào tài khoản số 07012043246 Ngân hàng S1 của N và 30.000.000₫ là tiền anh L2 YuTai tự quy đổi từ 9.000 Nhân dân tệ đưa tiền mặt cho N.
* Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1 và Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm Hải L3:
Khoảng tháng 12/2023, Lâm Minh Ngọc Đ quen biết Nguyễn Hoàng L1 có nick Zalo “Bi”. Qua mối quan hệ xã hội, cả hai thi thoảng nói chuyện qua lại với nhau, Đ bảo L1 có công việc gì kiếm tiền thì cho Đ làm cùng. Lúc này, L1 nói biết một số người Việt Nam có mối quan hệ quen biết với người Trung Quốc và mai mối người lấy chồng Trung Quốc. L1 và Đ thống nhất sẽ tổ chức mai mối để Đ lấy chồng Trung Quốc, sau khi lấy được tiền và quà “sính lễ” thì cô dâu sẽ bỏ trốn khỏi gia đình chú rể. L1 hứa hẹn nếu thành công sẽ chia cho Đ số tiền 90.000.000đ.
Khoảng đầu tháng 02/2024, L1 mời Đ đi uống nước, để Đ gặp gỡ Lâm Nhã T có nick Zalo “Thảo” tại quán nước ở TP Hồ Chí Minh. Sau buổi gặp khoảng 10 ngày, L1 bảo T tìm rể Trung Quốc cho Đ. Thông qua mạng xã hội, T biết và đặt vấn đề với Lê Thị Thúy N (có tên zalo “Khoảng Lặng”) về việc tìm rể Trung Quốc cho Đ, mặc dù biết Đ chỉ muốn giả kết hôn để lấy tiền sính lễ nhưng N vẫn đồng ý.
Đầu tháng 3/2024, trong khi chờ N tìm người môi giới kết hôn cho Đ, L1 mời T, Đ và Hoàng Thị Hoài L (sinh năm 1997; trú tại thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cùng đi ăn cơm tại TP Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian này, T gọi điện cho Đ, gửi số điện thoại và địa chỉ quán C1 tại TP Hồ Chí Minh để Đ liên hệ và đến gặp N. Tại đây, Đ gặp anh Lin K (người muốn cưới vợ Việt Nam), anh Lin Yu T6 (cậu của Lin K) và một người phụ nữ Trung Quốc (vợ của anh L2 Yu Tai) cùng với N và Phẩm Hải L3 (sinh năm 1996; trú tại Ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Tây Ninh - là người đang chung sống như vợ chồng với N) đóng giả làm chồng của N để xem mặt cô dâu. Đào chụp ảnh cùng anh Lin K, sau khi gặp mặt Đ thông báo cho T về việc gặp mặt đã xong, anh Lin K muốn lấy Đào làm vợ. N thỏa thuận giá cả với T là 230.000.000đ tiền sính lễ để Lin K kết hôn với Đ. Trân trao đổi lại với L1 về việc này, sau đó N yêu cầu T cung cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của Đ. T bảo Đ xin giấy xác nhận ở quê nhưng Đ không trả lời và không về làm. T bảo N đưa cho Đ 01 đến 02 triệu đồng để Đ về quê làm giấy tờ nhưng N không đồng ý đưa tiền cho Đ nên giữa N và T xảy ra mâu thuẫn. Trân hủy không nhận làm môi giới giữa Đ với N nữa.
Ngày 09/3/2024, Hoàng Thị Hoài L liên lạc với N để hẹn gặp xem mặt một cô dâu khác nhưng N gửi cho L hình ảnh của Đ chụp cùng anh Lin K qua zalo “Khoảng lặng” và thông báo với L qua điện thoại về việc anh Lin K chỉ muốn cưới Đ làm vợ. L thỏa thuận với N và L3, sẽ đứng ra mai mối cho Đ cưới anh Lin K, L chỉ đảm bảo việc cô dâu đi đến Sân bay hoặc cửa khẩu thì hết trách nhiệm thì N đồng ý. Vì biết Đ là người của L1 nên sau khi thỏa thuận với N thì L đã liên lạc với L1 để thỏa thuận việc mai mối cho Đ lấy anh Lin K làm chồng. L thỏa thuận với N, L3 giá tiền làm giấy tờ đăng ký kết hôn là 35.000.000đ, tiền sính lễ là 180.000.000đ. L trao đổi với L1 về việc thỏa thuận tiền sính lễ, giấy tờ đăng ký hết hôn và việc T và N đã từng thỏa thuận mai mối cho anh L2 Kai cưới Đào nhưng không thành công nhưng L1 vẫn đồng ý để cho L đứng ra giới thiệu Đ cho anh Lin K. L1 bảo T nếu không thỏa thuận được công việc với N thì để L1 cho người khác giới thiệu Đào đi lấy chồng. Sau đó, L1 cho L số điện thoại của Đ và bảo liên hệ để làm thủ tục kết hôn, đồng thời L1 nói với Trương Kim P1 giúp Đào tạo D giả làm một gia đình nhà gái và làm phiên dịch giúp cho Đ.
Theo chỉ dẫn của P1, ngày 13/03/2024 Đào đi đến Cần Thơ vào nhà em họ của P1 là Bùi Văn T7 (sinh năm 1988; trú tại: A, Khu V, L, huyện B, tỉnh Cần Thơ). Tại đây Đ gặp P1, bà Trần Thị Mỹ H4 (sinh năm 1977; trú tại: Ấp T, T, Đ, Cà Mau - là người đang sinh sống như vợ chồng với bố của P1) và con gái P1. P1 bảo với bà H4 nhận làm mẹ của Đ, còn P1 đóng vai chị gái của Đ để thành 01 gia đình giả nhằm tạo niềm tin cho rể người Trung Quốc. Khoảng hơn 15 giờ cùng ngày thì N, L3, anh Lin K, vợ chồng anh L2 YuTai đến nhà P1 nói chuyện, ăn uống gặp mặt và thông báo Đ và L6 đồng ý cưới nhau, đồng thời hẹn khi nào gần bay sang Trung Quốc thì chị gái cô dâu (do P1 đóng giả) đi cùng Đ lên TP Hồ Chí Minh để đi chơi.
Ngày 26/03/2024, Đ cùng P1 đến khách sạn L7 1 có địa chỉ tại A - A đường số A, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh thuê 02 phòng nghỉ tại đó cùng với anh Lin K. Tối ngày 27/3/2024, anh L2 YuTai đến khách sạn gặp Đ, P1, N, L3 sau đó tất cả cùng nhau đi ăn tối và đi mua vàng sính lễ cho cô dâu. Tại cửa hàng V, ở số A, L - 6, Phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh Đào chọn 01 dây chuyền và một cặp (02 chiếc) nhẫn tròn bằng vàng. Anh L2 YuTai thanh toán 22.590.000đ cho chủ cửa hàng rồi đưa cho Đ giữ 01 chiếc nhẫn tròn và 01 dây chuyền, anh Lin K giữ 01 chiếc nhẫn tròn. Về đến khách sạn, anh Lin Yu T6 nhờ quản lý khách sạn là chị Đoàn Thị H5, sinh năm 1983 trú tại thôn K, xã C, huyện L, Bắc Giang đặt vé máy bay cho Đ, anh Lin K, anh L2 Yu Tai từ TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội để về Trung Quốc.
Ngày 28/03/2024 Đ, anh L4, anh L2 YuTai đi ra sân bay còn P1 đi về. Tại Sân bay T, Đ gặp L đến đưa giấy đăng ký kết hôn cho anh Lin K. N chuyển tiền như đã thỏa thuận cho L, tổng số tiền N đã chuyển đến số tài khoản 0348797533 Ngân hàng M1 của L số tiền 185.000.000đ (chuyển làm 03 lần: Lần 1: 15.000.000đồng để làm giấy tờ; Lần 2: 150.000.000đồng tiền sính lễ và lần 3: 20.000.000đồng tiền sính lễ). Sau khi nhận được tiền, L đã chuyển cho L1 số tiền 155.000.000đ. Tổng số tiền L1 đã nhận từ L để môi giới kết hôn cho Đ là 170.000.000đ. L gọi điện thông báo cho Đ biết đã nhận được tiền từ Nga. Sau khi nhận giấy tờ, Đ cùng anh Lin K và anh L2 Yu Tai bay ra Sân bay N. Ngay khi xuống đến Sân bay quốc tế N, Đ đã tìm cách ra bắt xe ta xi bỏ trốn thì bị những người Trung Quốc giữ lại và báo Công an.
Đối với số tiền L1 nhận được từ L là 170.000.000đ, L1 đã chuyển cho H2 5.000.000đ tiền phí làm làm giấy tờ, chuyển cho P1 15.000.000đ. Sau khi nhận được 15.000.000₫ do L1 chuyển, P1 đã chuyển cho Đ 10.000.000₫.
Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện S đã tạm giữ của Đ 01 dây chuyền và một chiếc nhẫn tròn bằng vàng. Bản kết luận định giá tài sản số 82 ngày 11 tháng 04 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tố tụng hình sự huyện S xác định: 01 nhẫn cưới bằng vàng có giá 3.095.000₫, 01 dây chuyền bằng vàng có giá 16.400.000đ. Tổng số tiền theo kết luận định giá tài sản là 19.495.000đ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của L2 YuTai do anh L2 YuTai mua làm quà sính lễ. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp của tài sản là anh Lin Y1.
Tạm giữ 06 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) của Hoàng Thị Hoài L, Lâm Minh Ngọc Đ, Trương Kim P1, Nguyễn Hoàng L1, Lê Thị Thúy N, Đặng Phi H2; 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO của Lâm Nhã T sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với bà Trần Thị Mỹ H4 là người đóng vai là mẹ của Đ khi Lin Yu T6 và Lin K đến nhà xem mặt: Quá trình điều tra làm rõ bà H4 không biết mục đích Đ giả kết hôn với người Trung Quốc để chiếm đoạt tài sản, không được bàn bạc, không được hứa hẹn ăn chia tiền từ trước. Do vậy cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý trong vụ án này.
* Hành vi không tố giác tội phạm của Lâm Nhã T:
Lâm Nhã T là bạn gái của Nguyễn Hoàng L1. Quá trình chung sống như vợ chồng với L1, T biết việc L1 và Đ muốn tìm rể người Trung Quốc lừa kết hôn với Đ để lấy tiền sính lễ. Trân đã liên lạc và đặt vấn đề với N về việc tìm rể Trung Quốc cho Đ. Bản thân T tham gia giới thiệu để Đ gặp gỡ N và anh Lin K (là người muốn cưới vợ Việt Nam) và thỏa thuận giá cả tiền sính lễ để anh Lin K kết hôn với Đ là 230.000.000đ. Do quá trình làm việc giữa T và Đ xảy ra mâu thuẫn nên Trân hủy không nhận làm mai mối giúp Đ với anh Lin K thông qua N. Khi L1 tiếp tục môi giới cho Đ kết hôn với anh Lin K thông qua L và N, L1 bảo T nếu không thỏa thuận được công việc với N thì đứng sang một bên để L1 cho người khác giới thiệu Đào đi lấy chồng. Trân biết rõ việc Đ và các đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người Trung Quốc thông qua hình thức vờ kết hôn với người Trung Quốc để lấy tiền sính lễ nhưng nhưng T không ngăn chặn mà bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, không tố giác đến cơ quan có thẩm quyền.
* Hành vi Làm giả tài liệu, Sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức của Đặng Phi H2:
Sau buổi gặp mặt với gia đình rể người Trung Quốc, Đ chụp ảnh gửi hình ảnh thông tin căn cước công dân của Đ; N gửi hình ảnh thông tin Hộ chiếu, căn cước công dân của anh L4 cho L để L làm giấy tờ đăng ký kết hôn nhưng L không làm được nên L đã chuyển cho L1 để L1 làm giấy tờ chứng nhận đăng ký kết hôn giữa Đ với anh Lin K. Ngày 18/3/2024, L đã ứng tiền của L để chuyển khoản trước cho L1 15.000.000đ để làm giấy tờ. L1 đã liên hệ với Đặng Phi H2 để nhờ làm dịch vụ lấy nhanh giấy đăng ký kết hôn và bản dịch đăng ký kết hôn từ Tiếng Việt sang tiếng Trung, chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự. H2 và L1 thỏa thuận tiền làm giấy tờ là 8.000.000đ. L1 không nói cho H2 biết H2 việc làm giả tài liệu nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người Trung Quốc. H2 vào mạng xã hội và ứng dụng Internet tự học cách làm tài liệu giả; đặt mua 03 con dấu giả, mua phôi hết số tiền 2.100.000₫ sau đó đem về nhà làm giả tài liệu là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của U, TP Cần Thơ; tài liệu giả của Phòng tư pháp TP Hồ Chí Minh; tài liệu giả của Sở ngoại vụ Thành phố H - Bộ N1 chuyển cho L1. Sau khi làm giả thì H2 nói với L1 là những loại giấy tờ này H2 làm đơn giản, nên chỉ yêu cầu L1 trả tiền phí là 4.000.000đ. Ngày 18/3/2024, L1 đã chuyển khoản cho H2 4.000.000đ tiền công; ngày 26/3/2024 L1 chuyển khoản cho thêm H2 1.000.000đ. Sau đó, H2 đến bến xe khách Miền Tây gửi tài liệu cho xe khách (H2 không nhớ tên) mang đến bến xe TP Hồ Chí Minh để L1 thuê xe G2 mang tài liệu đến Tổ 1 khu phố K, Phường T, Thành phố T, tỉnh Bình Dương đưa cho L.
Kết luận giám định số 3236 ngày 09/5/2024 của Phòng K1 - Công an T8 xác định:
- - Mẫu hình dấu tròn “ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN T.P CẦN THƠ” tại mẫu cần giám định không phải cùng mẫu dấu do U, TP Cần Thơ cấp;
- - Phôi mẫu Giấy chứng nhận kết hôn tại mẫu cần giám định với Phôi mẫu Giấy chứng nhận kết hôn do U, T.P C sử dụng không được in ra từ cùng một mẫu thiết kế, phôi cần giám định được tạo ra từ phương pháp in phun màu.
Kết luận giám định số 5796 ngày 13/08/2024 của phòng K1 - Công an T8 xác định: Mẫu hình dấu tròn “PHÒNG TƯ PHÁP – QUẬN 5 – T.P HỒ CHÍ MINH” tại mẫu cần giám định không phải cùng mẫu dấu do Quận E, TP Hồ Chí Minh cung cấp; Mẫu hình dấu tròn “SỞ N – BỘ NGOẠI GIAO” tại mẫu cần giám định không phải cùng mẫu dấu do Sở N cung cấp.
Đối với 03 mẫu con dấu do H2 đặt mua trên mạng để sử dụng đóng vào các tài liệu giả, sau khi thực hiện hành vi phạm tội H2 đã mang đi tiêu hủy nên không thu giữ được.
Về dân sự:
- - Bị cáo Lê Thị Thúy N: Nhận của L8 tổng số tiền 356.448.000đ, N đã chuyển cho L số tiền 185.000.000đ, cho L3 10.000.000đ. Còn lại số tiền là 161.448.000đ. N đã khắc phục số tiền 40.000.000đ; số tiền còn lại phải khắc phục là 121.448.000đ.
- - Bị cáo Hoàng Thị Hoài L: Nhận 185.000.000đ từ Nga, đã chuyển cho L1 170.000.000đ; L đã khắc phục trả lại cho bị hại 15.000.000đ.
- - Bị cáo Nguyễn Hoàng L1: nhận 170.000.000đồng từ L, sau đó đã chuyển cho H2 5.000.000đ tiền phí làm làm giấy tờ; chuyển cho P1 15.000.000đ. Số tiền L1 chiếm đoạt là 150.000.000đ. L1 đã bỏ ra khắc phục giúp Đ, P1 tổng số tiền là 15 triệu đồng; số tiền còn lại L1 phải khắc phục là 150.000.000đ.
- - Bị cáo Trương Kim P1 nhận 15.000.000₫ do L1 chuyển (trong đó 5.000.000₫ là tiền công L1 trả cho P1, 10.000.000đ là tiền L1 nhờ P1 chuyển cho Đ); số tiền P1 phải khắc phục là 5.000.000₫ (L1 đã tự khắc phục giúp cho P1 5.000.000₫).
- - Bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ: Nhận được 10.000.000₫ do P1 chuyển, đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết (L1 bỏ ra 10.000.000đ khắc phục cho Đ).
- - Bị cáo Phẩm Hải L3: Nhận 10.000.000đ tiền công từ Nga; L3 đã khắc phục hậu quả, trả lại bị hại 10.000.000đ.
- - Bị cáo Đặng Phi H2 đã khắc phục trả cho bị hại 5.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 13/11/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố:
- - Các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm Hải L3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Lâm Nhã T về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Đặng Phi H2 về tội “Làm giả tài liệu, sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng {...} thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000₫ đến dưới 500.000.000₫”.
Điều 341. Tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
“1. Người nào làm giả tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
c) Làm từ 02 đến 05 tài liệu hoặc giấy tờ khác”.
Điều 390. Tội Không tố giác tội phạm:
“1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Tại phiên toà:
Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều xin được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lê Thị Thúy N và bị cáo Nguyễn Hoàng L1 nhất trí liên đới bồi thường cho anh L2 Yu Tai số tiền còn lại là 215.000.000đ.
Người bị hại, Lin Yu T6 xác định đã nhận được 01 (một) dây chuyền bằng vàng, 01 (một) nhẫn bằng vàng và số tiền 85.000.000₫ của các bị cáo khắc phục hậu quả. Anh Lin Yu T6 đề nghị các bị cáo phải tiếp tục trả lại cho anh số tiền 215.000.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo L1); Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L1 từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
- - Xử phạt các bị cáo Lê Thị Thúy N, Hoàng Thị Hoài L, Lâm Minh Ngọc Đ, Trương Kim P1, Phẩm H, mỗi bị cáo từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
- * Áp dụng Khoản 1 Điều 390; Điểm i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Nhã T từ 6 đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
- * Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Phi H2 từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
- Về phần dân sự: Buộc bị cáo L1 và bị cáo N liên đới bồi thường cho anh L2 YuTai tổng số tiền 215 triệu đồng.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 07 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo.
- Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định:
Tháng 03/2024, do cần tiền tiêu sài cá nhân và muốn chiếm đoạt tài sản của người Trung Quốc bằng hình thức giả kết hôn để lấy tiền sính lễ, Nguyễn Hoài L5, Hoàng Thị Hoài L, Lâm Minh Ngọc Đ, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm Hải L3 đã tạo dựng gia đình nhà gái giả để anh Lin Y1 (quốc tịch Trung Quốc) kết hôn với Lâm Minh Ngọc Đ. Tài sản của anh L2 YuTai bị chiếm đoạt là 356.448.000đồng, 01 nhẫn, 01 dây chuyền bằng vàng trị giá 19.495.000đ. Ngày 28/3/2024 khi anh L2 YuTai, Lin K và Đ đến Sân bay quốc tế N để bay về Trung Quốc thì Đ tìm cách bỏ trốn thì bị anh L2 YuTai hô hoán và báo Công an bắt giữ.
Lâm Nhã T quan hệ bạn bè, yêu đương với Nguyễn Hoàng L1 biết rõ việc L1, Đ và các đối tượng liên quan có hành vi lừa đảo anh Lin K, L2 YuTai thông qua hình thức mai mối hôn nhân để chiếm đoạt tài sản, nhưng T không ngăn chặn mà bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, không tố giác đến cơ quan có thẩm quyền.
Đặng Phi H2 có hành vi làm giả 03 tài liệu là Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của U, TP Cần Thơ; Tài liệu giả của Phòng tư pháp TP Hồ Chí Minh; tài liệu giả của Sở ngoại vụ Thành phố H liên quan đến việc kết hôn giữa Lâm Minh Ngọc Đ với anh Lin K rồi chuyển cho Nguyễn Hoàng L1 và nhận của L1 số tiền 5.000.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm Hải L3 đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Lâm Nhã T đã cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Đặng Phi H2 đã cấu thành tội “Làm giả tài liệu, sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Phẩm H, Lâm Nhã T, Đặng Phi H2 đều đã khắc phục hậu quả, nộp lại số tiền đã chiếm đoạt của bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Lâm Minh Ngọc Đ, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Phẩm H, Lâm Nhã T, Đặng Phi H2 đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Bị cáo Lâm Nhã T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm I Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Các bị cáo Nguyễn Hoàng L1, Lâm Nhã T, Đặng Phi H2 đều có gia đình có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
4.1. Hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.
Xét thấy các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng; các bị cáo Nguyễn Hoàng L1, Lê Thị Thúy N chưa khắc phục hậu quả, bồi thường số tiền chiếm đoạt cho bị hại; bị cáo Nguyễn Hoàng L1 có nhân thân xấu nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Trong nhóm các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo L1 và bị cáo N có vai trò chính nên phải chịu mức án cao hơn các bị cáo còn lại.
4.2. Các bị cáo Đặng Phi H2, Lâm Nhã T đều có nhân thân tốt; có đủ điều kiện của người bị kết án nhưng được hưởng án treo – cầ giao các bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi các bị cáo đang cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
[5] Về phần dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L1 và bị cáo Lê Thị Thúy N liên đới bồi thường cho bị hại số tiền còn lại.
[6] Xử lý vật chứng: Đối với 07 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” ; Tuyên bố bị cáo Đặng Phi H2 phạm tội “Làm giả tài liệu, sử dụng con dấu giả của cơ quan, tổ chức”; Tuyên bố bị cáo Lâm Nhã T phạm tội “Không tố giác tội phạm”.
- Áp dụng Đ1 a Khoản 3 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L1 8 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/04/2024.
- Áp dụng Đ1 a Khoản 3 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Thúy N 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2024.
- Áp dụng Đ1 a Khoản 3 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Hoài L 7 (bảy) năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/04/2024.
- + Xử phạt bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ 7 (bảy) năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/04/2024.
- + Xử phạt bị cáo Trương Kim P1 7 (bảy) năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Xử phạt bị cáo Phẩm Hải L3 7 (bảy) năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2024.
- Áp dụng Đ1 c Khoản 2 Điều 341; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Phi H2 28 (hai mươi tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 56 (năm mươi sau) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của Bản án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 390; Điểm i, s Khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Nhã T 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của Bản án.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- + Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L1 và bị cáo Lê Thị Thúy N liên đới bồi thường cho anh L2 Yu Tai tổng số tiền 215.000.000 đ (hai trăm mười lăm triệu đồng), trong đó: Kỷ phần bồi thường của bị cáo Nguyễn Hoàng L1 là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng); bị cáo N là 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng).
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng, số IMEI 1: 353891102927295, IMEI 2: 353891102927840; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, số IMEI 1: 35098186867726, IMEI 2: 350981869183407; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 màu xanh đen, số IMEI: 351488257641466 có lắp sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEI 1: 356303486782343, số IMEI 2: 35630348729734; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7 Pro màu đen, số IMEI 1: 860826064622233, số IMEI 2: 860826064622225; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, số IMEI 1: 352872330436128, IMEI 2: 352872330793577; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, sốsê ri: GONFG1QM 0D41, lắp sim (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/11/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn).
- + Buộc các bị cáo Lâm Minh Ngọc Đ, Nguyễn Hoàng L1, Hoàng Thị Hoài L, Trương Kim P1, Lê Thị Thúy N, Phẩm H, Đặng Phi H2 và Lâm Nhã T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo Nguyễn Hoàng L1 phải nộp 6.000.000₫ (sáu triệu đồng), bị cáo Lê Thị Thúy N 4.750.000đ (bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
- Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án. Đối với các bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt hợp lệ; Đối với người có quyền lợi liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt hợp lệ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường | Nơi nhận:
|
Bản án số 63/2025/HS - ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 63/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Minh Ngọc Đ
