|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 và T về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 138/TB-TA đối với bị cáo:
Phạm Duy H, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1993 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: SỐ A N, phường N (nay là phường A), Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: P nhà B chung cư B, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Trần Thị Trà M, sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/10/2024; có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Duy H được Giám đốc Công an thành phố H bổ nhiệm giữ chức vụ Phó trưởng Công an xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Quyết định số 118/QĐ-CAHP-PX01 ngày 22/2/2022. Trong thời gian từ ngày 05/10/2022 đến ngày 12/5/2024, vì động cơ vụ lợi cá nhân, H đã lợi dụng việc thu thập, cập nhật, chỉnh sửa và kiểm tra, phúc tra thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thu nhận 36 trường hợp công dân, tự ý nhập khẩu vào 09 hộ dân trên địa bàn xã A, nhập mới dữ liệu (Phiếu DC01) trên Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đúng theo quy định, cụ thể:
- Nhập mới dữ liệu dân cư cho 29 công dân không phải là người địa phương xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, không có dữ liệu dân cư trên hệ thống, gồm:
- Anh Mai Hoàng Anh M1, giới tính: Nam, sinh ngày: 27/11/1996; Quê quán: Xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Mai Ngọc M2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 19/12/1994; Quê quán: Xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Mai Hồng M3, giới tính: Nữ, sinh ngày: 02/02/1999; Quê quán: Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Lê Tuấn N, giới tính: Nam, sinh ngày: 23/11/1981; Quê quán: Phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Anh T1, giới tính: Nam, sinh ngày: 06/06/1973; Quê quán: phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thùy L1, giới tính: Nữ, sinh ngày: 15/12/1986; Quê quán: xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên.
- Nguyễn Thị Kim T2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 28/11/1978; Quê quán: xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.
- Nguyễn Anh S, giới tính: Nam, sinh ngày: 15/09/1980; Quê quán: phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Phan Thị L2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 01/01/1971; Quê quán: thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Hoàng Việt Q, giới tính: Nam, sinh ngày: 10/01/1986; Quê quán: xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Nguyễn Văn L3, giới tính: Nam, sinh ngày: 30/12/1997; Quê quán: phường C, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Hà Văn C1, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/03/1967; Quê quán: phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
- Nguyễn Thị H1, giới tính: Nữ, sinh ngày: 27/10/1966; Quê quán: thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
- Lê Thị Thúy L4, giới tính: Nữ, sinh ngày: 27/05/1995; Quê quán: phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- Trần Văn T3, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/01/1961
- Trần Văn L5, giới tính: Nam, sinh ngày: 05/01/1991
- Trần Văn L6, giới tính: Nam, sinh ngày: 21/03/1988
- Trần Văn T4, giới tính: Nam, sinh ngày: 29/12/1992
- Đỗ Thị D, giới tính: Nữ, sinh ngày: 25/4/1968
(Đều có quê quán: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định)
- Phạm Đức Đ (Bộ), giới tính: Nam, sinh ngày: 01/01/1956; Quê quán: phường L, quận K, thành phố Hải Phòng.
- Võ Nguyên Q1, giới tính: Nam, sinh ngày: 24/12/1982; Quê quán: xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Nguyễn Ngọc Bảo N1, giới tính: Nữ, sinh ngày: 20/10/1995; Quê quán: xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Đào Thị Hải H2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 26/11/1982; Quê quán: xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Trần Đặng Huân P, giới tính: Nam, sinh ngày: 26/10/1993; Quê quán: xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Nguyễn Thị H3, giới tính: Nữ, sinh ngày: 05/9/1973; Quê quán: xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Nguyễn Thị H4, giới tính: Nữ, sinh ngày: 15/6/1963; Quê quán: xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Lê Văn Đ1, giới tính: Nam, sinh ngày: 27/12/1992; Quê quán: xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
- Hoàng Hải Y, giới tính: Nữ, sinh ngày: 15/8/2002; Quê quán: xã N, huyện H, tỉnh Hà Giang.
- Hoàng Thị C2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 26/8/1998; Quê quán: xã C, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Nhập mới dữ liệu dân cư cho 07 công dân là các trường hợp có gốc là người xã An Tiến gồm:
- Họ và tên: Vũ Văn V, giới tính: Nam, sinh ngày: 01/01/1948
- Họ và tên: Vũ Thị T5, giới tính: Nữ, sinh ngày: 25/9/1972
- Họ và tên: Phạm Văn D1, giới tính: Nam, sinh ngày: 10/4/1957
- Họ và tên: Đỗ Thị T6, giới tính: Nữ, sinh ngày: 23/01/1974
- Họ và tên: Khúc Thị N2, giới tính: Nữ, sinh ngày: 17/02/1973
- Họ và tên: Phạm Thị H5, giới tính: Nữ, sinh ngày: 19/9/1977
- Họ và tên: Nguyễn Thị T7, sinh ngày: 10/04/1979; Quê quán: Xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Lấy chồng tại xã A, huyện A.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Duy H khai: Bản thân H không có thẩm quyền để phê duyệt nhập mới dữ liệu dân cư cho 36 công dân trên, H không báo cáo, không trình Trưởng Công an xã ký duyệt vào phiếu DC01 theo quy định mà đã đã tự ý sử dụng tài khoản của mình, tài khoản của đồng chí Phạm Văn S1 - Cán bộ Công an xã A, tài khoản quản trị Công an xã A (do đồng chí Vũ Minh H6 – Trưởng Công an xã A quản lý) để nhập mới thông tin dữ liệu dân cư, phê duyệt cho 36 công dân nêu trên được nhập khẩu vào 09 hộ dân. Các chủ hộ không biết, không được thông báo về việc hộ khẩu mình có thêm nhân khẩu thường trú.
Mỗi trường hợp công dân sau khi nhập mới dữ liệu và cấp số định danh thành công sẽ chuyển cho H số tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng bằng hình thức đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền vào tài khoản của H7, tổng số tiền H đã nhận của các công dân trên là 120.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, làm việc với 14/36 công dân, kết quả: Các công dân đều trình bày thông qua quan hệ xã hội và mạng Facebook được biết tại xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng có thể làm thủ tục cấp mã định danh để cấp căn cước công dân. Vì vậy, có công dân đến trực tiếp hoặc gọi điện thoại cho Phạm Duy H nhờ nhập nhân khẩu thường trú, cấp mã định danh để đi làm thủ tục cấp căn cước công dân. Công dân gửi thông tin giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu cũ bản phô tô trực tiếp hoặc gửi qua ứng dụng Zalo, M4 cho H. Sau khi H thông báo đã nhập xong dữ liệu cư trú, công dân có thể đến các Cơ quan Công an đề làm thủ tục cấp căn cước công dân, đồng thời đến đưa tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển khoản cho H.
Làm việc với Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H, xác định: Sau khi có dữ liệu dân cư 36 công dân đã làm thủ tục để được cấp Căn cước công dân gắn chíp điện tử và 35/36 trường hợp đã được thu nhận hồ sơ cấp căn cước công dân (01 trường hợp chưa đi thu nhận hồ sơ cấp căn cước công dân). Có 34/35 công dân đã được cấp căn cước công dân tại nhiều địa bàn tỉnh, thành phố khác nhau trên cả nước (01 công dân chưa được cấp căn cước công dân vì lý do hồ sơ bị phát hiện khác lý lịch, trùng vân tay).
Kết luận giám định số 2551/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Trong mẫu giám định tìm thấy 443 tin nhắn tức thì, 08 hình ảnh chụp lại màn hình thể hiện các cuộc hội thoại Messgenger, 14 hình ảnh chụp lại màn hình thể hiện các cuộc hội thoại Zalo, 02 tập tin hình ảnh được lưu trong máy trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05S do Hưởng giao nộp (nội dung chi tiết được lưu trong đĩa CD kèm theo).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H bị cáo Phạm Duy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai của những người liên quan, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thu thập được trong quá trình điều tra.
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 11 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T7, Phạm Thị H5, Đỗ Thị T6, Phạm Văn D1, Trần Văn T4, Đào Thị Hải H2, Mai Hoàng Anh M1, Mai Ngọc M2, Mai Hồng M3, Hoàng Việt Q, Hà Văn C1; 01 hộ chiếu Hoàng Việt Q số E00190096; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samung A05S, chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính là 120.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKS-P3 ngày 19 tháng 02 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Duy H về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Duy H từ 05 – 06 năm tù về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với: di động nhãn hiệu Samung A05S đã qua sử dụng và số tiền 120.000.000 đồng;
- + Tịch thu, tiêu hủy: 11 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T7, Phạm Thị H5, Đỗ Thị T6, Phạm Văn D1, Trần Văn T4, Đào Thị Hải H2, Mai Hoàng Anh M1, Mai Ngọc M2, Mai Hồng M3, Hoàng Việt Q, Hà Văn C1; 01 hộ chiếu Hoàng Việt Q số E00190096;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh và khung hình phạt:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định: Trong thời gian từ tháng 10/2022 đến ngày 12/5/2024, Phạm Duy H - Phó Trưởng Công an xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, vì động cơ vụ lợi, trong quá trình thực thi công vụ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy trình, quy định trong công tác đăng ký, quản lý cư trú theo Luật Cư trú năm 2020 và Quy trình thu thập, cập nhật, chỉnh sửa và kiểm tra, phúc tra thông tin về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được ban hành kèm theo Quyết định số 6824/QĐ-BCA-C06 ngày 26/8/2021 của Bộ trưởng Bộ C3. Thu nhận 36 trường hợp công dân được nhập mới dữ liệu trên Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không đúng theo quy định đối với công dân không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú và không làm thủ tục đăng ký thường trú nhưng vẫn được nhập dữ liệu như công dân đã có đăng ký thường trú; nhập thông tin của công dân vào hộ gia đình có trên địa bàn nhưng không được sự đồng ý của chủ hộ; không thực hiện việc xác minh thông tin cư trú của công dân theo quy định, gây ảnh hưởng đến công tác quản lý của Nhà nước về dữ liệu dân cư, thu lợi bất chính số tiền 120.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
[3] Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang; bố đẻ bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình công tác, được tặng thưởng huân huy chương; gia đình bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về quyết định hình phạt:
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý của cơ quan công an, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; gây mất lòng tin; gây dư luận xấu trong xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[7] 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samung A05S thu giữ của Phạm Duy H liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
[8] 11 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T7, Phạm Thị H5, Đỗ Thị T6, Phạm Văn D1, Trần Văn T4, Đào Thị Hải H2, Mai Hoàng Anh M1, Mai Ngọc M2, Mai Hồng M3, Hoàng Việt Q, Hà Văn C1; 01 hộ chiếu Hoàng Việt Q số E00190096 cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với số tiền 120.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo nộp lại, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 356; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy H phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ;
Xử phạt bị Phạm Duy H 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samung A05S đã qua sử dụng, màu đen, số seri: R7AWB01YE2B; IMEI 1: 357533647332138; IMEI 2: 358833707331138; trong điện thoại có gắn 02 sim điện thoại : 01 sim có số:8984048000024864414, 01 sim màu vàng không có số;
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 11 (mười một) Căn cước công dân gồm: Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị T7, số [...] mang tên Phạm Thị H5, số [...] mang tên Đỗ Thị T6, số [...] mang tên Phạm Văn D1, số [...] mang tên Trần Văn T4, số [...] mang tên Đào Thị Hải H2, số [...] mang tên Mai Hoàng Anh M1, số [...] mang tên Mai Ngọc M2, số [...] mang tên Mai Hồng M3, số [...] mang tên Hoàng Việt Q, số [...] mang tên Hà Văn C1.
- + 01 (một) hộ chiếu mang tên Hoàng Việt Q số E00190096.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 120.000.000 đồng (theo ủy nhiệm chi lập ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Kho bạc Nhà nước H8).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hà |
Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 63/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HƯỚNG
