Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 63/2025/HS-ST

Ngày 04-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Cầm Thị Đoa.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/2025/QĐXXST-HS ngày 20/02/2025 đối với bị cáo:

Phan Văn P, sinh ngày: 15/02/1993 tại huyện M (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là tổ dân phố C, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Phan Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Lường Thị N (Đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Tại Quyết định số 110/QĐ-TA ngày 09/8/2022 của TAND huyện Mộc Châu (nay là TAND thị xã Mộc Châu) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng;

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định số 207/QĐ-TA ngày 12/9/2017 của TAND huyện Mộc Châu (nay là TAND thị xã Mộc Châu) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (Đã được xóa tiền sự).
  • + Tại Quyết định số 66/QĐ-TA ngày 30/5/2020 của TAND huyện Mộc Châu (nay là TAND thị xã Mộc Châu) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng (Đã được xóa tiền sự).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tổ công tác Công an thị trấn M làm nhiệm vụ tại Tiểu khu A, thị trấn M tiến hành kiểm tra đối với Phan Văn P đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Phan Văn P đang cất giấu trong túi áo khoác bên trái 01 túi nilon màu xanh, bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Heroine. Phan Văn P khai nhận đó là ma túy của P cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Phan Văn P, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Phan Văn P đến trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Ngày 16/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng chất bột màu trắng có khối lượng 0,13 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu P.

Tại Kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,13 gam, loại Heroine".

Quá trình điều tra Phan Văn P khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2024, Phan Văn P đi bộ từ nhà đến khu vực tiểu khu A thị trấn M mục đích tìm việc làm. Trên đường đi đến ngõ T, thị trấn M, P gặp và hỏi mua được của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng túi nilon màu xanh với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, P cất giấu gói ma túy trong túi rồi đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi thì gặp tổ công tác Công an thị trấn M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn P trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu (nay là Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu) truy tố bị can Phan Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 27 tháng đến 33 tháng tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Phan Văn P, bắt ngày 16/12/2024 (đựng 01 túi nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Phan Văn P.

  3. Bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu (nay là Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an thị trấn Mộc Châu thu giữ của bị cáo vào ngày 16/12/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 300.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn M lập vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 16/12/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,13 gam, loại Heroine”. Heroin nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 09 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Phan Văn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/12/2024 bị cáo Phan Văn P đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,13 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Phan Văn P không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo đã có 03 tiền sự đi cai nghiện tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục tái nghiện. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Phan Văn P, bắt ngày 16/12/2024 (đựng 01 túi nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Phan Văn P, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Phan Văn P, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

    Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Phan Văn P 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 16/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Phan Văn P, bắt ngày 16/12/2024 (đựng 01 túi nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Phan Văn P.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số:51/BBVC-CCTHA ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 04/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND thị xã Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Long Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 63/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn P tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger