TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2025/HS-PT Ngày: 19-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành;
Ông Nguyễn Xuân Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 406/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2024/HS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1984 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1960; có vợ tên Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1984 (đã ly hôn năm 2020); sống chung như vợ chồng với Lương Thị Cẩm G, sinh năm 1985 và chưa có con; Tiền sự: Không;
- Tiền án:
- + Bản án số: 201/2013/HSST ngày 24/9/2013, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp xong hình phạt tù ngày 02/4/2016; đóng án phí hình sự sơ thẩm và nộp phạt 2.000.000 đồng năm 2013 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; ngày 11/12/2014 nộp 500.000 đồng tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, còn lại 2.500.000đ ngày 04/8/2020 Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã ra quyết định miễn;
- + Bản án số: 228/2018/HS-ST ngày 12/7/2018, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp xong hình phạt tù ngày 07/3/2020, đóng án phí hình sự sơ ngày 09/11/2018;
- + Bản án số: 95/2022/HS-ST ngày 16/3/2022, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/12/2022.
- Nhân thân:
- + Bản án số: 189/HSST ngày 25/8/2002, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã chấp xong hình phạt tù ngày 18/7/2006; Về án phí theo quyết định thi hành án số 1012/QĐ-THA ngày 12/8/2003 Đội Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa đã thụ lý và tổ chức thi hành án (đã được xóa án tích);
- + Ngày 12/5/2021, bị Công an thành phố B xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, bị cáo nộp phạt ngày 12/7/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc H là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy, khoảng 18 giờ ngày 08/4/2024, H đi xe ôm từ chợ đêm B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến quán cà phê không tên khu vực gần Trạm thu phí cầu Ô thuộc phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng “Hai” (không rõ họ, địa chỉ) mua 2.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng. Sau khi nhận ma túy từ H3, H về lại phòng trọ tại ấp B, xã T và luôn giấu ma túy trong người. Khoảng 13 giờ ngày 10/4/2024, khi H đang đứng trước phòng trọ thì lực lượng Công an xã T phối hợp Công an huyện V tuần tra, kiểm tra phát hiện trong túi quần trước của H có một hộp sắt hình chữ nhật, bên trong có 02 túi zip và 01 túi nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng là ma túy. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.
- + Vật chứng thu giữ: 02 túi Zip và 01 túi nylon được hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
- + Tại Kết luận giám định chất ma túy số 744/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 6,199 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 6,123 gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 744/KL-KTHS.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2024/HS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt Nguyễn Ngọc H mỗi bị cáo 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23/9/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm:
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới ngoài tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đối với vụ án, cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về nhiều tội danh khác nhau nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo mức án 07 (bảy) năm tù là phù hợp, đúng quy định, không nặng như đơn kháng cáo bị cáo nêu.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào đặc biệt mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 125/2024/HS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
[2] Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2024.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Sơn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa | |
Nguyễn Xuân Quang | Nguyễn Văn Thành | Nguyễn Thành Sơn |
Bản án số 63/2025/HS-PT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (phúc thẩm)
- Số bản án: 63/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
