Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/02/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoàn

Bà Nguyễn Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 433/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 597/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/2025/TB-TA ngày 16 tháng 01 năm 2025, giữa:

  • - Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1980,

    Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương

  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978,

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan

Anh T, chị T1 đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Văn T trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị T1 tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/3/2010 và được

gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì chị T1 đi lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc với tôi, khoảng 03 năm trở lại đây thì gần như chị T1 không liên lạc với anh nữa mà chỉ gọi điện hỏi thăm các con qua người nhà. Nguyên nhân là do chị T1 không chung thủy với anh, vợ chồng mỗi lần gọi điện thường xuyên xảy ra cãi vã, trong cuộc sống không có sự tin tưởng. Anh đã nói chuyện với chị T1 về Việt Nam làm thủ tục ly hôn để giải thoát cho nhau nhưng chị T1 không về. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Gia H, sinh ngày 15/01/2012 và Hoàng Trang T2, sinh ngày 05/6/2014, hiện nay cả 2 cháu đều đang ở với anh. Ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng cả 2 con chung và tự nguyện không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Do anh T không cung cấp được địa chỉ của chị T1 nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị T1. Bà Phạm Thị H1 (là mẹ đẻ chị T1) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của chị T1 ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị T1 vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Chị T1 đã biết việc anh T có đơn xin ly hôn nhưng chị không nhất trí ly hôn. Về con chung, chị T1 xác định vợ chồng có 02 con chung Hoàng Gia H, sinh ngày 15/01/2012 và Hoàng Trang T2, sinh ngày 05/6/2014. Hiện nay chị T1 đang ở nước ngoài chị đồng ý để anh T nuôi dưỡng 02 con chung đến khi nào về Việt Nam chị sẽ có quan điểm sau, ngoài ra chị không có quan điểm nào khác. Về tài sản chung, nợ chung chị không có quan điểm gì.

Con chung của anh T và chị T1 là cháu Hoàng Gia H và cháu Hoàng T3 Ta có nguyện vọng được ở với anh T.

Tại phiên tòa: Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; chị T1 vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Hoàng Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị

T1; Về con chung: Giao cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Hoàng Gia H, sinh ngày 15/01/2012 và Hoàng Trang T2, sinh ngày 05/6/2014. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Hoàng Văn T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị T1. Bị đơn chị T1 có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở Thôn M, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương, hiện chị T1 đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị T1. Tòa án đã xác minh với gia đình chị T1 và đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà H1 là mẹ đẻ của chị T1 để thông báo về việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh T và chị T1 đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Bà H1 vẫn liên lạc với chị T1 và đã thông báo việc Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa anh T và chị T1.

Tại phiên tòa các đương sự vắng mặt, anh T quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt, chị T1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương vào ngày 01/3/2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống năm 2017 chị T1 đi lao động tại Đài Loan, còn anh T ở Việt Nam. Do vợ chồng xa cách nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không có sự tin tưởng trong cuộc sống gia đình, nghi ngờ nhau về tình cảm vợ chồng. Anh T có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình chị T1 có quan điểm không nhất trí ly hôn nhưng không có quan điểm và biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng từ năm 2017 đến nay chị T1 đi Đài Loan không về nước lần nào và vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai. Như

vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh T và chị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh T ly hôn chị T1 là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Nguyễn Thị T1 có 02 con chung là Hoàng Gia H, sinh ngày 15/01/2012 và Hoàng Trang T2, sinh ngày 05/6/2014, hiện nay 02 cháu đều đang ở cùng anh T. Anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu chị T1 đóng góp tiền nuôi con chung. Xét thấy: Anh T đang ở trong nước đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung, chị T1 đang làm việc ở nước ngoài chưa về nước nên không đủ điều kiện chăm sóc con chung. Do đó cần tiếp tục giao cháu H, cháu Trang T2 cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị T1 được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn T ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
  2. Về con chung: Giao cho anh Hoàng Văn T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Hoàng Gia H, sinh ngày 15/01/2012 và Hoàng Trang T2, sinh ngày 05/6/2014, thời gian từ tháng 02/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng tiền

nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005111 ngày 01/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
  2. Về quyền kháng cáo: Anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Chị Nguyễn Thị T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng
  • (để ghi vào sổ ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 63/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T xin ly hôn Nguyễn Thị T1, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger