|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HS-ST
Ngày: 12/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Phước Tâm;
- Ông Trần Văn Bé Hai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Linh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ngộ Không - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 46/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Chí N
Họ và tên: Cao Chí N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 02/7/2005, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Cao Văn X, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Anh em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đinh Thị Hồng T, sinh năm 2003; Con: Cao Chí V, sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T6 - Cục C, Bộ C1 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Võ Nhựt T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ C, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Đinh Thị Hồng T, sinh năm 2003; Địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 24/02/2024, tại vị trí phía trước tiệm T7 thuộc ấp C, xã B, huyện C, Lực lượng Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện Cao Chí N cất giấu trong người 04 bịch nylon chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, Nguyên khai nhận là ma túy, tàng trữ để sử dụng nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Kết quả giám định đều là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 3,913 gam.
Ngay sau đó, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cao Chí N tại tổ 1, ấp A, xã A, huyện C phát hiện: 01 khẩu súng ngắn (loại ổ quay) có dòng chữ “SMITH & WESSON MADE IN CHINA ZP-5”, bên trong có chứa 04 viên đạn; 07 viên đạn trong túi da màu nâu sọc caro trong học tủ và nhiều đồ vật có liên quan khác, Nguyên khai khẩu súng và 11 viên đạn là của N đặt mua trên mạng trước đó khoảng 06 tháng, mục đích là để phòng thân và chưa sử dụng lần nào nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ các vật chứng liên quan.
* Tại bản kết luận giám định số 227/KL- KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Khẩu súng ngắn (kiểu súng ổ quay) bằng kim loại và nhựa màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu vàng, trên súng có dòng chữ “SMITH & WESSON MADE IN CHINA ZP-5” là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng; 11 viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng gửi giám định đều là đạn thể thao cỡ 5.6mm, x 15,5mm, thuộc vũ khí thể thao, sử dụng được cho khẩu súng trên.
Quá trình điều tra Cao Chí N khai nhận: Khoảng tháng 7 năm 2023 Cao Chí N được sự hướng dẫn của bạn bè, N sử dụng điện thoại di động vào trang mạng xã hội đặt mua 01 khẩu súng kèm theo 11 viên đạn bằng kim loại màu vàng với giá 3.000.000đ, hình thức mua bán thông qua dịch vụ giao hàng nhanh. Khoảng 15 ngày sau, có một người thanh niên (không rõ tên, địa chỉ) điện thoại gọi N ra khu vực gần quán N1 thuộc xã A, huyện C giao khẩu súng, đạn và thanh toán tiền, sau đó N mang về nhà cất giấu trong tủ gỗ có tên Hello K để trong phòng ở của mình và không ai hay biết. Đến ngày 24/02/2024 N bị lực lượng Công an bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và khám xét chỗ ở của Nguyên phát hiện, thu giữ 01 khẩu súng và 11 viên đạn như nêu trên.
Ngày 14/3/2024, Cơ quan ANĐT tiến hành xác minh nguồn gốc súng và đạn thu giữ của Cao Chí N, kết quả súng và đạn nêu trên không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép sử dụng.
* Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSĐT-P1 ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Cao Chí N về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phân công
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án này theo thẩm quyền.
Tại Công văn số 395/CV-VKSHCL ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh ban hành giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng số 24/CT-VKSÐT-P1 ngày 19/7/2024 tiếp tục truy tố bị cáo N và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” sang Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Chí N về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Cao Chí N mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với bản án hình sơ sơ thẩm số 40/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã xét xử đối với bị cáo Cao Chí N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị như bản cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình, hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 24/CT-VKSĐT-P1 ngày 19/7/2024 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, biên bản nhận dạng súng, đạn, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có cơ sở xác định: Khoảng tháng 7 năm 2023, N sử dụng mạng xã hội Facebook đặt mua 01 khẩu súng ổ quay là vũ khí quân dụng kèm theo 11 viên đạn với số tiền 3.000.000 đồng mang về nhà cất giấu, với mục đích là để phòng thân. Đến khoảng 15 giờ ngày 24/02/2024, khi N đi đến tiệm T7 tại ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngay sau đó lực lượng Công an khám xét khẩn cấp chỗ ở phát hiện N cất giấu 01 khẩu súng và 11 viên đạn trong tủ gỗ nên lập biên bản thu giữ tang vật theo quy định pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên, có căn cứ xác định bị cáo N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo đã có hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng; nhận thức rõ hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội; bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Điều 304 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
2......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử bị cáo một mức án phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội, đồng thời phải cách ly bị cáo khỏi xã hội nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về nhân thân bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế, bị cáo đang nuôi con còn nhỏ. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Đối với Võ Nhựt T1: Quá trình điều tra Cao Chí Nguyên khai khẩu súng và 11 viên đạn Công an thu giữ là của N nhờ Võ Nhựt T1 đặt mua trên mạng và nghe T1 nói T1 có mua 01 khẩu súng “ZP-5” qua mạng trước đó. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo N nên T1 không đồng phạm với N về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” là phù hợp.
- Đối với tài khoản facebook mua bán súng, đạn (không thể hiện sim số): Do bị cáo Cao Chí N không nhớ rõ thông tin người bán nên quá trình điều tra không xác định được người bán súng, đạn là ai, tên gì, ở đâu để xác minh, làm rõ nên chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.
[7] Đối với người thanh niên đã trực tiếp giao súng, đạn cho N: N không biết người này là ai, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không xác định được con người cụ thể để mời làm việc. Đề nghị, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) Khẩu súng ngắn (kiểu súng ổ quay) bằng kim loại và nhựa màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu vàng, trên súng có dòng chữ “SMITH & WESSON MADE IN CHINA ZP-5”; 09 (chín) viên đạn có vỏ bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu vàng đồng và 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đít các viên đạn và vỏ đạn đều có chữ “C” - còn lại sau khi bắn thực nghiệm là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ xử lý theo quy định pháp luật.
Vật chứng này hiện do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ đang quản lý.
[9] Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố:
- Bị cáo Cao Chí N phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo cao Chí N 01 (một) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã xử phạt bị cáo Cao Chí N 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng cộng hình phạt chung bị cáo Cao Chí N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ 01 (một) Khẩu súng ngắn (kiểu súng ổ quay) bằng kim loại và nhựa màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu vàng, trên súng có dòng chữ “SMITH & WESSON MADE IN CHINA ZP-5” là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng; 09 (chín) viên đạn là đạn thể thao cỡ (5,6x15.5mm), thuộc vũ khí thể thao sử dụng để bắn được cho khẩu súng trên và 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng (còn lại sau khi bắn thực nghiệm) tịch thu, xử lý theo quy định pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đ và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ).
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
+ Buộc bị cáo Cao Chí N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- VKSND huyện Cao Lãnh;
- CA huyện Cao Lãnh;
- CQTHAHS&HTTP – CAHCL;
- THADS huyện Cao Lãnh;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 63/2024/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử:
Họ và tên: Cao Chí N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 02/7/2005, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: tổ 1, ấp A, xã A, huyện C, Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Cao Văn X, sinh năm 1973; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; Anh em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đinh Thị Hồng T, sinh năm 2003; Con: Cao Chí V, sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T6 - Cục C, Bộ C1.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố:
- Bị cáo Cao Chí N phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo cao Chí N 01 (một) năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã xử phạt bị cáo Cao Chí N 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng cộng hình phạt chung bị cáo Cao Chí N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ 01 (một) Khẩu súng ngắn (kiểu súng ổ quay) bằng kim loại và nhựa màu đen, ốp tay cầm bằng nhựa màu vàng, trên súng có dòng chữ “SMITH & WESSON MADE IN CHINA ZP-5” là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng; 09 (chín) viên đạn là đạn thể thao cỡ (5,6x15.5mm), thuộc vũ khí thể thao sử dụng để bắn được cho khẩu súng trên và 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng (còn lại sau khi bắn thực nghiệm) tịch thu, xử lý theo quy định pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Đ và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ).
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
+ Buộc bị cáo Cao Chí N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Hội thẩm nhân dân (đã ký) Phạm Phước T2 – Trần Văn B Hai |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Huỳnh Trung D |
Để thi hành
Cao Lãnh, ngày 14 tháng 01 năm 2025
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
THẨM PHÁN
Huỳnh Trung D
|
Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Phước T2 – Hồ Thị mai Hương |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Trung Dũng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2020/HSST ngày 26 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử:
Võ Hoàng V1
- sinh năm 1990 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Võ Văn T3, sinh năm 1965 và bà Hà Thị T4, sinh năm 1965; Vợ tên: Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1988; Tiền án: Có 01 tiền án vào ngày 25/3/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phúc thẩm tuyên phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 24/12/2014 tại Trại giam C2, tỉnh Đồng Tháp; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Từ ngày 16/7/2020 đến ngày 25/7/2020; Tạm giam : Không; Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Nguyễn Thị Trúc L1 - sinh năm 1997; Nơi cư trú: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đỗ Thị Mộng T5 - sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Võ Văn T3 - sinh năm 1965; Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Hoàng V1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/7/2020 đến ngày 25/7/2020.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Võ Hoàng V1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Hội thẩm nhân dân (đã ký) |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) |
Phạm Phước T2 – Hồ Thị Mai Hương
Huỳnh Trung D
Để thi hành
C, ngày 29 tháng 10 năm 2020
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
THẨM PHÁN
Huỳnh Trung D
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ vũ khí quân dụng
