TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 19/11/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Hiến và ông Nguyễn Văn Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 08/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024, đối với bị cáo:
- Huỳnh Văn V, sinh năm: 1985 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Cha tên: Không xác định được; Mẹ tên: Huỳnh Thị Bé H, sinh năm: 1957; Vợ và con: Không; Tiền sự và tiền án: Không; Tạm giữ: Ngày 31/5/2024; Tạm giam: Ngày 06/6/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Vũ Trường G, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Lê Văn N, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Lê Văn L, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo có mặt; Anh G, anh N và anh L vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo là người nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền mua ma túy sử dụng, từ khoảng tháng 01/2024, bị cáo đã mua ma túy loại Methamphetamine từ một người không rõ nhân thân với số tiền 3.500.000 đồng. Sau đó, mang về chia nhỏ để bán lại cho các đối tượng nghiện tại địa phương. Khi có nhu cầu, các đối tượng nghiện liên hệ trực tiếp với bị cáo qua số điện thoại 0348.449.xxx. Sau khi thỏa thuận mua bán, bị cáo hẹn họ đến nhà riêng tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để tiến hành giao nhận ma túy và tiền. Kết quả điều tra chứng minh được, từ cuối tháng 3/2024 đến ngày 31/5/2024, bị cáo đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều người, cụ thể như sau:
- - Bán ma túy cho anh L tổng cộng 4 lần. Trong đó, lần gần nhất là vào ngày 27/5/2024 với giá 300.000 đồng, ba lần trước đó với tổng giá trị 700.000 đồng. Ma túy có được, anh L mang về nhà tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp sử dụng một mình.
- - Ngày 27/5/2024: Bị cáo bán ma túy cho anh G với giá 700.000 đồng. Anh G đã mang ma túy về nhà tại ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp sử dụng một mình.
- - Ngày 30/5/2024 và 31/5/2024: Bị cáo bán ma túy cho anh N 02 lần, 01 lần 100.000 đồng và 01 lần 200.000 đồng. Anh N đã mang ma túy về nhà tại ấp C, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp sử dụng một mình.
Đến khoảng khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, bị cáo điều khiển xe mô tô loại Sirius, biển số 59C2-199.34 đi từ nhà đến ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để gặp một người tên C nhằm bán ma túy với giá 500.000 đồng. Tại đây, bị cáo đã bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã T bắt quả tang, thu giữ 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong chứa 0,370 gam ma túy loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 705/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ).
Tiếp tục khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo thu giữ được 0,756 gam ma túy Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 705/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ) cùng nhiều vật chứng khác liên quan, bị cáo khai số ma túy này tàng trữ nhằm mục đích bán trái phép cho người khác. Quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận, đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác nhưng không xác định được nhân thân người mua và thời gian cụ thể.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS-TM ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Theo Cáo trạng trên thì Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo V với mức án từ 08 (T) năm đến 09 (C1) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đề nghị phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.
Đối với anh G, anh N và anh L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng những người này vắng mặt không có lý do. Đồng thời, những người này cũng không có gửi cho Tòa án văn bản ý kiến gì nên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của những người này.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 59/CT-VKSTM ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi của bị cáo. Ngày 31/5/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã T nghi vấn khám xét người của bị cáo thu giữ 02 đoạn ống hút hàn kín hai đầu, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, theo kết luận giám định thì tinh thể rắn màu trắng này là chất ma túy, có khối lượng là 0,370 gam, loại Methamphetamine. Bị cáo thừa nhận tàng trữ số ma túy trên nhằm mục đích bán lại cho 01 người tên C với giá 500.000 đồng, hai bên chưa kịp giao dịch thì bị cáo bị bắt quả tang. Ngoài lần bán ma túy trên bị cáo còn thừa nhận từ tháng 3/2024 đến ngày 31/5/2024 bị cáo đã trực tiếp thực hiện hành vi bán ma túy cho nhiều người, cụ thể:
- - Bán cho anh L 04 lần, trong đó lần gần nhất vào ngày 27/5/2024 với giá 300.000 đồng, tại nhà của bị cáo. Đồng thời, 03 lần trước đó không nhớ ngày, tháng với tổng số tiền là 700.000 đồng, tại nhà của bị cáo.
- - Bán cho anh G 01 lần vào ngày 27/5/2024 với giá 700.000 đồng, tại nhà của bị cáo.
- - Bán cho anh N 02 lần, vào ngày 30/5/2024 với giá 100.000 đồng và ngày 31/5/2024 với giá 200.000 đồng, cùng tại nhà của bị cáo.
Đồng thời, khám xét nhà của bị cáo lực lượng Công an còn thu giữ 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1); 01 túi nylon trong suốt có nắp kẹp 01 đầu có viền màu đỏ, kẹp kín bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2); 01 túi nylon trong suốt hàn kín 03 đầu và 01 túi nylon trong suốt hàn kín 04 đầu bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A3); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu và 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh sọc trắng hàn kín bốn đầu bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A4). Theo kết luận giám định thì tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A1 là chất ma túy, có khối lượng là 0,370 gam, loại Methamphetamine; tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A2 là chất ma túy, có khối lượng là 0,411 gam, loại Methamphetamine; tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A3 là chất ma túy, có khối lượng là 0,164 gam, loại Methamphetamine; tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu A4 là chất ma túy, có khối lượng là 0,181 gam, loại Methamphetamine. Bị cáo thừa nhận tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, cùng với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[4] Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi của mình. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hoàn thành tội phạm. Bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 07 lần thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[5] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo V đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
[6] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hơn thế, bản thân bị cáo đều nhận thức được ma túy là loại độc tố nếu sử dụng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và hạnh phúc gia đình, đồng thời đây cũng là con đường chính dẫn đến lây nhiễm và lan truyền HIV. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội. Đã có bao nhiêu gia đình phải tan vỡ, vợ mất chồng, con mồ côi cha mẹ khi gia đình đó có thành viên là con nghiện ma túy. Hàng ngày, hàng giờ trên các phương tiện thông tin đại chúng nói về các vụ án nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng xảy ra khi người phạm tội là con nghiện, chỉ vì muốn có tiền mua ma túy sử dụng đã thực hiện hành vi phạm tội. Thế mà, chỉ vì mục đích có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Đối với bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đồng thời, bị cáo tự nguyện khai báo với Cơ quan tiến hành tố tụng về các lần mua bán ma túy trong vụ án án này (trừ lần bị bắt quả tang) trước khi tội phạm hoặc bị cáo bị phát hiện. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Ngoài các tình tiết mà Hội đồng xét xử đã xem xét trên thì bị cáo xác định tính đến nay thì bị cáo không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác.
[8] Về hình phạt bổ sung: Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo cần phạt bổ sung một khoản tiền nhất định để nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 04 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, A3, A4 và mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A1, có khối lượng 0,345 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A2, có khối lượng 0,364 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A3, có khối lượng 0,137 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A4, có khối lượng 0,160 gam. Đây là vật dụng dùng niêm phong chất ma túy để giám định và lượng ma túy còn lại sau giám định nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu NELSON; 01 cái quẹt gas màu vàng, 02 cái quẹt gas màu đỏ; 03 cây kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút màu vàng và 01 đoạn ống hút màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 nón kết màu đen có chữ PORSCHE DESIGN; 01 hộp nhựa trong suốt; 01 hộp nhựa màu vàng; 01 túi xách màu nâu có nhiều chữ LV; 01 hợp kim loại màu bạc; 01 hộp nhựa màu xanh; 10 túi nylon trong suốt có nắp kẹp một đầu màu đỏ; 01 hộp giấy màu vàng có chữ Bánh trung thu Quí Thạnh; 30 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 01 cân tiểu ly không nhãn hiệu màu trắng - đen; 01 đầu khò nhãn hiệu Namilux màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng có chữ VIVO; 01 bóp da màu đen; 01 bịch nylon màu đen; 01 bình nhựa trong suốt, bên trên đậy nắp nhựa màu trắng, được khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ được gắn nỏ thuỷ tinh trong suốt nối với 01 đoạn ống hút màu xanh trắng, lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng đầu được nối với 01 đoạn ống hút màu xanh. Đây là tài sản của bị cáo dùng để làm công cụ sử dụng ma túy và hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0348443721; 01 xe mô tô mang biển số 59C2-199.34 loại Sirius, màu trắng. Đây là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc với các đối tượng nghiện trong vụ án này để mua bán ma túy nên cần tịch thu bán nộp vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 4.200.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Trong vụ án này, bị cáo đã bán ma túy thu lợi bất chính từ anh G, anh N và anh L với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Đối với số tiền 2.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo nên cần phải xem xét buộc bị cáo nộp lại số tiền này để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Đối với anh G, anh N và anh L khai nhận có hành vi mua và sử dụng trái phép chất ma túy từ bị cáo nhưng xét thấy hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét xử lý.
[13] Đối với nguồn ma túy mà bị cáo mua về bán cho những con nghiện là từ người ở huyện T, tỉnh Đồng Tháp nhưng không rõ họ, chữ lót, tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét xử lý, khi nào có đủ căn cứ pháp lý sẽ xử lý sau bằng vụ án khác.
[14] Đối với người tên C là người mua ma túy của bị cáo nhưng không rõ họ, chữ lót, tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể của người này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét xử lý, khi nào có đủ căn cứ pháp lý sẽ xử lý sau bằng vụ án khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm r và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo V 08 (T) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/5/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo V số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy 04 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, A3, A4 và mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A1, có khối lượng 0,345 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A2, có khối lượng 0,364 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A3, có khối lượng 0,137 gam; mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu A4, có khối lượng 0,160 gam.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ thuốc lá nhãn hiệu NELSON; 01 cái quẹt gas màu vàng, 02 cái quẹt gas màu đỏ, 03 cây kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút màu vàng và 01 đoạn ống hút màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu trắng; 01 nón kết màu đen có chữ PORSCHE DESIGN; 01 hộp nhựa trong suốt; 01 hộp nhựa màu vàng; 01 túi xách màu nâu có nhiều chữ LV; 01 hợp kim loại màu bạc; 01 hộp nhựa màu xanh; 10 túi nylon trong suốt có nắp kẹp một đầu màu đỏ; 01 hộp giấy màu vàng có chữ Bánh trung thu Quí Thạnh; 30 đoạn ống hút nhựa nhiều màu; 01 cân tiểu ly không nhãn hiệu màu trắng - đen; 01 đầu khò nhãn hiệu Namilux màu trắng; 01 hộp giấy màu trắng có chữ VIVO; 01 bóp da màu đen; 01 bịch nylon màu đen; 01 bình nhựa trong suốt, bên trên đậy nắp nhựa màu trắng, được khoét hai lỗ tròn, 01 lỗ được gắn nỏ thuỷ tinh trong suốt nối với 01 đoạn ống hút màu xanh trắng, lỗ còn lại gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng đầu được nối với 01 đoạn ống hút màu xanh.
- - Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0348443721; 01 xe mô tô mang biển số 59C2-199.34 loại Sirius, màu trắng.
- - Trả lại cho bị cáo V số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím.
- - Buộc bị cáo V phải có trách nhiệm nộp lại số tiền mua bán ma túy là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/10/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
Hội thẩm nhân dân Đào Văn Hiến - Nguyễn Văn Ánh | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
