Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 22-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Bá Hiền

2. Ông Lại Duy Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Bạo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1990 tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đình C, con bà: Nguyễn Thị L, bố mẹ hiện sinh sống tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 01/6/2023 bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 5.000.000đ) về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0057007/QĐ-XPHC. Đã chấp hành việc nộp phạt ngày 12/3/2024.

Nhân thân:

- Ngày 15/7/2017, bị can bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 1.500.000đ) về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74/QĐ-XPHC.

- Ngày 04/12/2017, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 2.500.000đ) về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 108/CANC.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/02/2024, đến ngày 08/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N. có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Công C1, sinh năm 1978; có mặt.

Địa chỉ: Thôn N - T - N -Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đình Q, có mặt.

Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N - Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960; có mặt.
  • + Anh Nguyễn Thế S, sinh năm 1983; vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Khắc N, sinh năm 1972; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Thế C2, sinh năm 1983; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 1990; vắng mặt.
  • + Ông Trịnh Vũ H1, sinh năm 1972; vắng mặt.

Cùng địa chỉ xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Anh Lê Văn T, sinh năm 1983; vắng mặt.

Địa chỉ: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  • + Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2003; có mặt.

Địa chỉ: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Nguyễn Thành N1 ĐTV, thuộc Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
  • + Ông Nguyễn Danh Q1 cán bộ điều tra, thuộc Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 24/02/2024, gia đình anh Lê Đình Q, ở thôn L, xã T, huyện N, tổ chức liên hoan cho cháu Lê Đình Q2, đi nghĩa vụ quân sự, Lê Đình H là người cùng tham gia trong buổi liên hoan đó. Khi H ngồi trong mâm uống rượu thì Nguyễn Quốc T1, lại mời rượu, sau khi cụng chén, T1 uống trước nên H nói với T1 “Nhỏ chúc mà uống trước” lúc này T1 không nói gì mà đi về bàn của mình. Khoảng 15 phút sau khi ăn xong, H lên bàn ngồi uống nước với Nguyễn Xuân P, ở cùng thôn và một số người bạn của anh Q (chủ nhà). Một lúc sau, H nghe thấy có người nói to tiếng ngoài đường nên chạy ra xem. Tại đây, H có nói với mọi người “Ở cái đất ni không phải sợ thằng nào cả”. T1 nghe vậy thì nói lại “Chưa biết được đâu anh ạ, mỗi người một thời, tre già măng mọc, giờ mấy đứa 2005, 2006 không biết anh là ai, em cũng không biết anh là ai”. Lúc này, H dùng tay túm cổ áo T1 và nói “Mi thích tre già măng mọc đúng không” rồi dùng tay ghì cổ T1 xuống và đấm vào đầu vào lưng T1. Sau đó, T1 chạy vào khu vực bếp nhà anh Q tìm dao nhưng không thấy, lúc này có bé gái con anh Q chỉ T1 sang nhà bên cạnh (là nhà của H). T1 đi vào khu vực bếp thì thấy một con dao quắm ở sọt bát bên hông nhà. T1 lấy dao, dắt vào đai quần trước bụng và lấy áo phủ lên để che. Khi T1 đi ra ngoài cổng thì H chỉ tay vào mặt T1 và chửi “Mẹ con nhà Phong H2, mi thích tre già măng mọc thì tí tau gặp mi sau” rồi dùng tay đẩy vào mặt T1. T1 dùng tay phải rút dao ra chém về phía H, H giơ tay lên đỡ thì bị chém trúng vào ngón tay phải. H chạy lùi vào trong sân thì T1 tiếp tục đuổi theo chém thêm một nhát nữa nhưng không trúng. Lúc này, mọi người vào can ngăn kéo T1 ra ngoài cổng. Bị chém, H chạy ra khu vực nhà bếp lấy một con dao năm, cầm ở tay trái rồi chạy ra ngoài đường. Khi nhìn thấy T1, H lao lại vung dao lên chém về phía người T1 theo hướng từ trên xuống dưới, T1 giơ tay lên đỡ thì bị thương ở mu bàn tay trái và ngón giữa tay trái. H tiếp tục vung dao chém thêm một nhát nữa nhưng bị mọi người can ngăn nên không trúng vào người T1. Lúc này, một số người vào can ngăn, kéo T1 sang bên đường, anh Nguyễn Công C1 đi từ trong nhà anh Q ra, nhìn thấy sự việc nên nói “cháu tau đó bay ơi, đừng có đánh hấn”. Lúc này, H tiếp tục dùng dao chém về phía T1 thì anh C1 dơ tay lên đỡ thì bị trúng vào tay. Anh C1 đẩy T1 ra rồi bảo T1 chạy về hướng xã T. H đi vào nhà cầm con dao năm đi ra ngoài đường. Nhìn thấy ở ven đường phía bên phải có một chiếc xe lôi, đang cắm sẵn chìa khoá nên H lấy xe, nổ máy chạy về hướng xã T. Khi đi đến gần ngõ S, thôn L, xã T (cách nhà H khoảng 700m) thì H nhìn thấy phía trước có một người đàn ông (C) đang đi ở bên cạnh đường. Do trời tối, nhìn không rõ là ai, nghĩ đó là T1 nên H điều khiển xe lôi từ phía sau tông thẳng về phía người anh C1, phần thành thùng xe lôi thúc trúng vào đùi trái của anh C1 làm cho anh C1 bị hất ngã xuống đất. H quay lại nhìn thì phát hiện đó là anh C1 nhưng không dừng lại mà tiếp tục đi xuống nhà T1 để tìm đánh T1, nhưng lúc này T1 chưa về nhà. Sau đó, H điều khiển xe lôi quay về và dựng xe ở vị trí cũ rồi mang dao cất ở nhà bếp.

Hậu quả: Lê Đình H bị thương nhẹ, T1 và anh C1 bị thương được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T.

Sau khi nhận được tin báo tội phạm của Công an xã T, huyện N. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám hiện trường, thu giữ các vật chứng liên quan và hình ảnh (04 video) ghi lại một phần diễn biến vụ việc

Ngày 28/02/2024, Lê Đình H đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Nguyễn Công C1 hồi 13 giờ 30 phút ngày 27/02/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T ghi nhận thương tích như sau:

  • - 01 (một) vết rách da, bờ mép sắc gọn, kích thước (1,2 x 0,5)cm tại đốt 1, ngón III, bàn tay phải.
  • - 01 (một) vết rách da, bờ mép sắc gọn, kích thước (1,7 x 0,3)cm tại đốt 1, ngón IV, bàn tay phải.
  • - 01 (một) vết thâm, bầm tím, kích thước (13x5)cm tại mu, cổ bàn tay trái.
  • - 01 (một) vết thâm, bầm tím, kích thước (26x20)cm tại vùng dưới sườn, sau thắt lưng.
  • - 01 (một) vết rách, bong da kích thước (01 x 03)cm tại mông trái.
  • - 01 (một) vết thâm, bầm tím, trong diện (35x14)cm tại mặt trước đùi trái.
  • - 01 (một) vết sưng thâm, bầm tím, kích thước (10x05)cm tại mặt ngoài đầu gối trái. (BL: 93-99)

* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Quốc T1 hồi 15 giờ 45 phút ngày 26/02/2024 Bệnh viện đa khoa tỉnh T ghi nhận thương tích như sau:

  • - 01 (một) vết thương đã khâu chỉ y tế, kích thước (7,5x0,5)cm tại vị trí mặt sau bàn tay trái (tương ứng vị trí ngón I, bàn tay trái)
  • - 01 (một) vết thương đã khâu chỉ y tế, kích thước (02x0,5)cm tại vị trí mặt trước đốt 3 ngón III, bàn tay trái. (BL: 175)

* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lê Đình H hồi 14 giờ 35 phút ngày 28/02/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện N ghi nhận có thương tích như sau:

  • - 01 (một) vết rách da, bờ mép sắc gọn đã khô máu, kích thước dài 02cm, tại đốt I, ngón cái bàn tay phải.
  • - 01 (một) vết thương sung nề, bầm tím kích thước (4,5x2,5)cm tại vị trí cẳng tay trái.
  • - 01 (một) vết thương sung nề, bầm tím kích thước (02x1,5)cm tại mu bàn chân trái. (BL: 198)

Cơ quan điều tra đã thu thập bệnh án, quá trình điều trị của Nguyễn Công C1, Nguyễn Quốc T1 và ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định để xác định định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Công C1, Nguyễn Quốc T1 và Lê Đình H.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 353/KLTTCT-PYTH ngày 19/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • - Sẹo vết thương phần mềm, vùng đốt 1, ngón I, bàn tay phải, kích thước sẹo nhỏ: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục I; 1)
  • - Các chấn thương và tổn thương khác do chấn thương; hiện tại không để lại sẹo vết thương phàn mềm, không để lại biến đổi loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương: 0% (Không phần trăm)

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đình H tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm)

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 326/KLTTCT-PYTH ngày 01/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Quốc T1 tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm)

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 324/KLTTCT-PYTH ngày 09/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • - Chấn thương đùi trái gây tổn thương gãy 1/3 trên xương đùi trái; đã được điều trị; hiện còn hình ảnh gãy 1/3 trên xương đùi trái đã kết hợp xương bằng nẹp vít và vài mảnh vỡ rời mấu chuyển lớn và mấu chuyển bé đầu trên xương đùi trái: 30% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; mục VII; 10.2)
  • - Chấn thương vùng mu bàn tay trái gây tổn thương gãy đầu xa xương bàn V bàn tay trái: 06% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; mục V; 4.1)
  • - Sẹo phẫu thuật kết hợp xương dọc mặt ngoài đùi trái, kích thước sẹo trung bình: 02% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục I; 2)
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt lòng đốt 1, ngón III bàn tay phải; kích thước sẹo nhỏ: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục I; 1).
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt lòng đốt 1, ngón IV bàn tay phải; kích thước sẹo nhỏ: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục I; 1).
  • - Vết biến đổi loạn sắc tố da vùng ô mô út bàn tay trái đến cổ tay trái: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục V).
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng ¼ dưới trong mông trái, kích thước sẹo nhỏ: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục I; 1).
  • - Vết biến đổi loạn sắc tố da vùng mặt trước đùi trái: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; mục V).
  • - Các chấn thương và tổn thương khác do chấn thương đã được điều trị; hiện không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi loạn sắc tố da; không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương: 0% (không phần trăm)

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Công C1 tại thời điểm giám định là: 39% (Ba mươi chín phần trăm)

* Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định pháp y về vật gây thương tích đối với Nguyễn Công C1, Nguyễn Quốc T1 và Lê Đình H

Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích đối với Nguyễn Công C1 số 325/KLVGTT-PYTH ngày 09/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • - Vết rách da, bờ mép sắc gọn, kích thước (1,2 x 0,5)cm tại đốt 1, ngón III, bàn tay phải; Vết rách da, bờ mép sắc gọn, kích thước (1,7 x 0,3)cm tại đốt 1, ngón IV, bàn tay phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
  • - Vết rách, bong da kích thước (01 x 03)cm tại mông trái. Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh.
  • - Vết thâm, bầm tím, kích thước (13x5)cm tại mu, cổ bàn tay trái; Vết thâm, bầm tím, kích thước (26x20)cm tại vùng dưới sườn, sau thắt lưng. Vết thâm, bầm tím, trong diện (35x14)cm tại mặt trước đùi trái; Vết sưng thâm, bầm tím, kích thước (10x05)cm tại mặt ngoài đầu gối trái. Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích đối với Nguyễn Quốc T1 số 327/KLVGTT-PYTH ngày 03/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • - Vết thương đã khâu chỉ y tế, kích thước (7,5x0,5)cm tại vị trí mặt sau bàn tay trái (tương ứng vị trí ngón I, bàn tay trái); Vết thương đã khâu chỉ y tế, kích thước (02x0,5)cm tại vị trí mặt trước đốt 3 ngón III, bàn tay trái. Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh hoặc vật có cạnh sắc.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về vật gây thương tích đối với Lê Đình H số 354/KLVGTT-PYTH ngày 18/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:

  • - Vết rách da bờ mép sắc gọn đã khô máu, kích thước dài 02cm, tại đốt I, ngón cái bàn tay phải: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.
  • - Vết thương sung nề, bầm tím kích thước (4,5x2,5)cm tại vị trí cẳng tay trái và Vết thương sung nề, bầm tím kích thước (02x1,5) cm tại mu bàn chân trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày có cạnh.

* Cơ quan điều tra cũng đã trưng cầu giám định đối với các video hình ảnh thu giữ được.

Tại bản kết luận giám định số 1231/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 04 (bốn) tệp video của 02 USB gửi giám định.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đôi giày da của anh C1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C1.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen, Biển kiểm soát 36N9-2961 kéo theo thùng hàng bằng kim loại; 01 đăng ký xe mô tô. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
  • - 03 con dao thu giữ. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà L.

Về Trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản sau:

Tiền thuốc điều trị, tiền viện phí là 22.558.275đ; tiền thuê xe đi bệnh viên, đi giám định là 1.050.000đ; tiền mất thu nhập trong 12 ngày nằm viện x 240.000đ/ngày = 2.880.000đ; tiền công 01 người chăm x 12 ngày x 240.000đ = 2.880.000đ; tiền mất thu nhập sau khi ra viện không lao động được từ 01 đến 02 tháng x 240.000đ/01 ngày; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSNC ngày 14/8/2024 và Công văn số 440/CV-VKSNC ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Đình H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm khẳng định trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. VKSND huyện Nông Cống đã thực hiện nghiêm việc kiểm sát điều tra; VKS không nhận được thông tin gì của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác báo cáo việc bị cáo bị ép cung và bị đánh đập trong quá đình điều tra. Do đó lời khai của bị cáo tại phiên tòa không có cơ sở chấp nhận. Đối với yên cầu về việc cơ quan điều tra chưa thu thập, trích xuất Camera an ninh và Camera an của các hộ dân sinh sông tại nơi sảy ra sự việc; sau khi HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung VKS đã tiến hành xác minh. Kết quả xác minh thể hiện tại vị trí trực tiếp nơi sảy sự việc tại thời điểm đó không lắp Camera an ninh và các hộ gia đình cũng không lắp Camera như lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, VKSND huyện Nông Cống giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 năm 06 đến 07 năm tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Về trách nhiệm dân sự áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tiền thuốc, viện phí là 22.558.275đ; tiền thuê xe đi bệnh viên, đi giám định là 1.050.000đ; tiền thu nhập trong 12 ngày nằm viện x 240.000đ/ngày = 2.880.000đ; tiền công người chăm 01 người x 12 ngày x 240.000đ = 2.880.000đ; tiền mất thu nhập sau khi ra viện không lao động được trong thời gian 02 tháng x 240.000đ/01 ngày = 14.400.000đ; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần 24 tháng lương cơ sở = 56.160.000đ tổng cộng bằng = 99.928.275đ; đề nghị trả lại số tiền cho anh Q đã nộp thay cho bị cáo để bồi thường cho bị hại; bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật. Chấp nhận ý kiến của bị cáo và anh Q về việc anh Q nộp thay cho bị cáo 200.000đ tiền án phí HSST tại Chi cục thi hành án dân sự.

- Ý kiến của Điều tra viên và cán bộ điều tra trong vụ án: Điều tra viên và cán bộ điều tra trình bày kể từ khi được Thủ trưởng cơ quan điều tra phân công trực tiếp điều tra vụ án; Điều tra viên, cán bộ điều tra đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và biện pháp nghiệp vụ để điều tra xác minh làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo và các hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng khác trong vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra Điều tra viên, cán bộ điều tra không ép cung, không đánh đập bị cáo. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về điều tra viên và cán bộ điều tra.

- Đối với bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận có hành vi chửi bới và dùng hung khí đánh nhau với Nguyễn Quốc T1; bị cáo thừa nhận có hành vi tự ý lấy xe lôi gắn máy của người khác để bên đường đuổi theo T1 về hướng đi xã T, trên tay cầm theo 1 con dao năm; bị cáo thừa nhận trên đường đuổi theo T1 và C1, bị cáo không gặp ai tham gia giao thông trên đoạn đường này, nhưng bị cáo không thừa nhận gây thương tích cho anh C1. Bị cáo khai khi xuống đến nhà T1 do không gặp được T1 nên bị cáo đã gọi bố T1 ra nói chuyện, bố T1 không mở cửa nên hai người nói qua lại, vì bực tức nên bị cáo đã dùng dao gỏ vào thành xe rồi chạy quay về nhà đến ngày 28/02/2024 bị cáo lên Công an huyện N đầu thú. Bị cáo trình bày lý do bị cáo nhận tội là bị Điều tra viên và cán bộ điều tra ép cung và bị đánh đập nên phải nhận tội, nhưng bị cáo cũng không có tài liệu, chứng cứ gì để giao nộp hoặc chứng minh trước HĐXX về nội dung lời khai của mình.Về số tiền 10.200.000đ mà anh Lê Đình Q (anh trai bị cáo nộp thay tiền bồi thường) bị cáo đề nghị trả lại cho anh Q 10.000.000đ, còn 200.000đ nộp án phí HSST.

- Ý kiến anh C1 khẳng định thương tích của anh là do H gây ra từ việc H điều khiển xe máy gắn xe lôi phía sau truy đuổi T1, khi phát hiện H đuổi sắp đến nơi, anh C1 bảo T1 chạy trốn vào ngõ trong, ngay sau đó H đi tới lao xe thẳng vào người anh, phần thành xe lôi trúng vào người làm anh bị thương và được P đưa đi cấp cứu điều trị tại bệnh viện. Trong số vết thương do H gây ra có một vết thương ở bàn tay trái là do anh đỡ dao khi H chém T1, còn lại các vết thương khác trên cơ thể là do H dùng xe lôi đâm vào với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39% sức khỏe, đến nay H chưa bồi thường cho anh được khoản tiền nào. Về hình phạt anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; về bồi thường thiệt hại anh đề nghị Tòa án buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh những khoản như anh đã có đơn đề nghị gửi Tòa án.

- Lời khai anh P tại phiên tòa ngày 30/9/2024: Anh không trực tiếp nhìn thấy H tông vào anh C1, nhưng là người đầu tiên tiếp cận khi anh C1 bị thương, khi đó anh C1 nói với P là bị H dùng xe lôi đâm gảy chân, P khẳng định tại thời điểm sảy ra sự việc trên đoạn đường từ ngõ nhà anh Q đi hướng về xã T gồm anh C1, T1 chạy trước, tiếp theo là H chạy xe lôi đuổi theo, sau đó đến anh. Ngoài anh và những người trên không còn ai tham gia giao trên đoạn đường đó vào thời điểm sảy ra sự việc.

- Ý kiến anh Lê Đình Q: Mục đích của gia đình là nộp thay H khoản tiền bồi thường thiệt hại để được giảm hình phạt cho H và nộp án phí hình sự, nhưng H không đồng ý nộp bồi thường nên đề nghị tòa giải quyết theo ý kiến của Hoàn trả lại cho anh 10.000.000đ, còn 200.000đ nộp án phí HSST cho H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo khai trong giai đoạn điều tra, bị cáo bị Điều tra viên và cán bộ điều tra ép cung, bị đánh đập. HĐXX đã yêu cầu bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Nhưng bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình. HĐXX đã quyết định tạm ngừng phiên tòa để triệu tập Điều tra viên và cán bộ điều tra trong vụ án đến tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 296, Điều 317 BLTTHS. Tại phiên tòa ngày 30/9/2024; sau khi nghe ý kiến trình bày của Điều tra viên, cán bộ điều tra; ý kiến của bị cáo, bị hại, người làm chứng và quan điểm của KSV; HĐXX thấy quá trình điều tra vụ án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có chứng cứ để chứng minh điều tra viên, cán bộ điều tra ép cung, đánh đập bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, đến phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, là quyền chối tội của bị cáo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 61 BLTTHS. Đối với yêu cầu của bị cáo tại phiên tòa đề nghị làm rõ việc trong giai đoạn điều tra Cơ quan điều tra không thu thập hình ảnh từ Camera an ninh và Camera an của những hộ dân tại nơi sảy ra sự việc. HĐXX thấy để giải quyết vụ án chính xác, khách quan đảm bảo quyền và lợi ích của những người tham gia tố tụng, HĐXX đã quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung. Kết quả điều tra bổ sung đã khắc phục nội dung yêu cầu của bị cáo. Do đó, khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai bị cáo tại phiên tòa thừa nhận có dùng hung khí đánh nhau với Nguyễn Quốc T1, có cầm dao năm và tự ý lấy xe lôi của người khác để ở ven đường đuổi theo T1 và anh C1, nhưng bị cáo không thừa nhận hành vi dùng xe lôi gây thương tích cho Nguyễn Công C1, đây là quyền chối tội của bị cáo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 61 BLTTHS. Nhưng với những tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được trong quá trình điều tra đặc biệt đơn xin đầu thú kèm bản tường trình đầu tiên do chính tay bị cáo viết và ký tên mà người tiếp nhận các văn bản của bị cáo là Điều tra viên Nguyễn Viết L1, chức vụ Đội trưởng đội điều tra tổng hợp Công an huyện N, kết quả giám định thương tích của bị hại, vật chứng và kết quả tranh trụng tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở chứng minh: Vào tối ngày 24/02/2024, tại địa bàn thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa do có mâu thuẫn cá nhân từ trước trong buổi tiệc dự liên hoan cho cháu Lê Đình Q2, con trai anh Lê Đình Q, đi nghĩa vụ quân sự; tại đây Lê Đình H và Nguyễn Quốc T1 sảy ra mâu thuẫn cá nhân nên đã có hành vi chửi bới, thách thức và sau đó dùng hung khí đánh nhau. Anh Nguyễn Công C1 là người có mặt nơi xảy ra sự việc nên đã can ngăn thì bị H chém vào tay, cùng lúc đó anh C1 đẩy T1 và cùng T1 chạy về phía hướng đi xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Lê Đình H đã tự ý lấy xe mô tô có gắn thùng phía sau (xe lôi) của người khác để ở ven đường đuổi theo và tông vào người anh C1. Kết quả điều tra và kết luận giám định thể hiện phần thành thùng xe lôi do H điều khiển thúc trúng vào đùi trái của anh Nguyễn Công C1 làm cho anh C1 bị hất ngã xuống đường, bị thương nặng phải đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh T từ ngày 24/02/2024 đến 06/3/2024 ra viện. Hậu quả làm anh Nguyễn Công C1 bị tổn hại 39% sức khỏe.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe người khác, khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ; làm mất trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo đủ nhận thức việc điều khiển xe mô tô gắn xe lôi phía sau lao thẳng vào người đi đường phía trước là nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người khác, nhưng vì đang quá bức xúc, tức giận với hành vi của T1 nên đã thực hiện, tuy nhiên vì T1 đã trốn vào ngõ trong nên bị hại không phải là T1 mà là anh C1. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đã đầu thú nên áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, đến phiên tòa bị cáo không nhận tội, không ăn năn nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; về nhân thân: Bị cáo là người đã nhiều lần bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích cho người khác.

[5] Về nội dung lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày 30/9/2024: Bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra không thu giữ, trích xuất Camera tại nơi sảy ra sự việc mà chỉ trích xuất Camera trên đường bị cáo đi, nên không có căn cứ kết tội bị cáo. Đối với nội dung này, qua kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy, Cơ quan điều tra đã xác minh, thu thập, trích xuất hình ảnh và trưng cầu giám định một số Camera trên tuyến đường bị cáo đi lại, nhưng chưa có biên bản xác minh với người có thẩm quyền tại địa phương và những hộ dân sinh sống tại nơi sảy ra vụ việc để xác định tại nơi sảy ra sự việc có hay không có Camera như lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thiếu sót trong quá trình điều tra mà không thể bổ sung tại phiên tòa được nên HĐXX đã quyết định trả hồ sơ cho VKSND huyện Nông Cống để yêu cầu điều tra bổ sung. Kết quả điều tra bổ sung thể hiện trong biên bản xác minh giữa Đại diện VKSND huyện Nông Cống, UBND xã T và một số hộ dân sinh sống tại địa điểm xảy ra sự việc. Những người được xác minh đều khẳng định tại thời điểm sảy ra sự việc, thì vị trí trực tiếp nơi sảy sự việc không lắp Camera an ninh và các hộ gia đình cũng không lắp Camera. Như vậy, yêu cầu của bị cáo tại phiên tòa đã được thực hiện, khắc phục thiếu sót trong giai đoạn điều tra.

[6] Về nội dung bị cáo khai tại phiên tòa ngày 27 và ngày 30 tháng 9 năm 2024, là bị cáo bị ép cung, bị Điều tra viên và cán bộ điều tra đánh đập trong giai đoạn điều tra nên phải nhận tội, nhưng bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Về nội dung này VKSND huyện Nông Cống và HĐXX đã kiểm tra toàn diện hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nhưng không có căn cứ để xử lý như lời khai của bị cáo.

[7] Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo; HĐXX thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với quy định của Điều 38 BLHS. Về mức hình phạt đối với bị cáo mà đại diện VKS đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với điểm, khoản của Điều luật, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra cho bị hại. Tuy nhiên, để xem xét toàn diện vụ án, nguyên nhân sảy ra sự việc có một phần lỗi của Nguyễn Quốc T1, người làm chứng trong vụ án (nội dung này đã được Công an huyện N xử lý vi phạm hành chính ngày 18/7/2024 đối với Nguyễn Quốc T1). Nên, HĐXX thấy cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt và quyết định mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của VKSND huyện Nông Cống tại phiên tòa là phù hợp, vừa đáp ứng tính răn đe, giáo dục vừa đảm bảo tính công bằng, nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước.

[8] Đối với số tiền 10.200.000đ mà anh Lê Đình Q (anh trai bị cáo) nộp thay bị cáo ngày 30/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống để bồi thường trước cho bị hại. Bị cáo không đồng ý bồi thường nên trả lại cho anh Q. Chấp nhận ý kiến của bị cáo và anh Q về việc anh Q nộp thay bị cáo 200.000đ tiền án phí trong số tiền 10.200.000đ mà anh Q đã nộp ngày 30/9/2024 tại chi cục thi hành án huyện Nông Cống.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí hợp lý trong quá trình điều trị; tiền công người chăm, tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị; tiền mất thu nhập sau thời gian ra viện 02 tháng tương đương với mức thu nhập trung bình tại địa phương; tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại tương đương với 24 tháng lương cơ sở là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu phí HSST; phải bồi thường nên phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS: Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS;

Xử phạt bị cáo Lê Đình H 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (28/02/2024).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản sau:

  • - Tiền thuốc điều trị + viện phí là 22.558.275đ.
  • - Tiền thuê xe đi bệnh viên, đi giám định là 1.050.000đ.
  • - Tiền thu nhập trong 12 ngày nằm viện x 240.000đ/ngày = 2.880.000đ.
  • - Tiền công người chăm 01 người x 12 ngày x 240.000đ = 2.880.000đ.
  • - Tiền mất thu nhập sau khi ra viện 02 tháng x 240.000đ/01 ngày = 14.400.000đ.
  • - Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần tương đương 24 tháng lương cơ sở (24 x 2.340.000₫ = 56.160.000đ). Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 99.928.275đ.

Trả lại cho anh Lê Đình Q 10.000.000đ theo biên lai thu số 0001580 ngày 30/9/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 4.996.413đ án phí DSST. Chấp nhận bị cáo đã nộp xong 200.000₫ án phí HSST do anh Lê Đình Q nộp thay theo biên lai thu số 0001580 ngày 30/9/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo còn phải nộp 4.996.413đ án phí DSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (liên quan đến khoản tiền 10.200.000đ) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải Thi hành án dân sự có quyền tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Nông Cống;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Nông Cống;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu: Hồ sơ, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình H - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger