|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS - ST Ngày: 16 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Duy Phu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Minh - Giáo viên nghỉ hưu;
Bà Đỗ Thị Ái Thương - Giám đốc Trung tâm chính trị huyện Kim Thành;
- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/HSST - QĐ ngày 12/9/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Mạnh T, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giữ từ ngày 29/4/2024 đến ngày 04/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, có mặt.
- Nguyễn Tùng L, sinh ngày 09/3/2008; Nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Doãn Thị T3; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giữ từ ngày 29/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo L: Bà Lê Thị Thu H1 - Trợ giúp viên, Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh H; Địa chỉ số A, phố T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt);
- Đinh Việt A, sinh ngày 30/01/2007, Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ và bà Trương Thị D; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giữ từ ngày 29/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Việt A: Lê Thị X, sinh năm 1958, Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương;
Người bào chữa cho bị cáo Việt A: Bà Lê Thị Thu H1 - Trợ giúp viên, Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh H. Địa chỉ số A, phố T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (có mặt);
- Chử Văn Đ1, sinh năm 1999, Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chử Văn K và bà Phan Thị Q; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị tạm giữ từ ngày 29/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Chị Doãn Thị T3, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt).
-
Ông Chử Văn K, sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu Đ, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt).
- Bà Lê Thị X, sinh năm 1958, Nơi cư trú: Thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (có mặt);
-
Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);
+ Người làm chứng:
-
Cháu Phạm Tiến T4
Người đại diện theo pháp luật của cháu T4: Chị Lương Thị T5, sinh năm 1981;
-
Cháu Trần Ngọc T6;
Người đại diện hợp pháp của T6: Chị Phạm Thị T7, sinh năm 1981
-
Cháu Đinh Diệu L1, sinh ngày 05/11/2008
Người đại diện hợp pháp của L1: Chị Nguyễn Thị Mai C, Bí thư Đoàn T9, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
(Tất cả đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng gần 21 giờ ngày 28/4/2024, sau khi uống bia tại quán bia thuộc thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Mạnh T bảo Nguyễn Tùng L và cháu Trần Ngọc T6 đi về. T và Chử Văn Đ1 đi chơi. L hỏi T: đi chơi gì đó anh. T dùng ngón trỏ bàn tay phải chỉ vào bên phải mũi của mình, ý nói đi sử dụng ma tuý loại Ke, kẹo (MDMA). Thấy T ra ám hiệu như vậy, L và Đ1 lần lượt gọi T ra nói chuyện riêng, bảo T cho L và Đ1 góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng và bảo T ứng tiền ra mua ma túy trước. L và Đ1 sẽ trả T sau. T đồng ý và nói mỗi người khoảng 500.000 đồng, hết bao nhiêu về sẽ chia đều. Do T6 uống bia bị say nên gọi người nhà đến chở T6 về. Đ1 bảo đợi T ở ga P thuộc thị trấn P rồi đi bộ đến quán Internet ở khu vực ga P ngồi chơi điện tử. L sử dụng điện thoại di động Iphone XS (do L mượn của mẹ ruột là chị Doãn Thị T3) gọi đến điện thoại di động Iphone 6S Plus của Đinh Việt A, hẹn gặp Việt A tại quán nước ở khu đất mới thuộc xã K, huyện K, rủ V đi sử dụng ma túy.T điều khiển xe máy loại Wave A, biển số 34S1-263.31 chở L đi về nhà T (chiếc xe này T6 sử dụng đi đến quán bia, khi được người nhà đến đón về, T6 vẫn để xe ở quán, chìa khoá xe cắm ở ổ khoá điện). Trên đường về, T sử dụng điện thoại di động của T gọi điện qua ứng dụng Zalo cho một người có tên là Đ2 (không rõ lai lịch) hỏi mua của Đ2 1.500.000 đồng ma tuý loại Ke và 700.000 đồng ma túy loại kẹo. Đ2 đồng ý và bảo T đi đến khu vực cầu G, phía bên bờ sông thuộc thị trấn P. Khi về đến nhà, T lấy 01 đèn nháy led và 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng cho vào chiếc ba lô màu đen, rồi đưa ba lô cho L. T chở L đến khu đất mới thuộc xã K, huyện K. L cầm theo ba lô xuống xe đi vào quán nước ở khu vực đó thì gặp Việt A đang ngồi uống nước cùng với Phạm Tiến T4. L rủ Việt A và T4 đi sử dụng ma tuý, mỗi người đóng góp khoảng 500.000 đồng, hết bao nhiêu về chia đều. Việt A và T4 đều đồng ý và bảo đưa cho L sau để L trả cho T.
Sau khi chở L đến khu đất mới thuộc xã K, T điều khiển xe đi đến khu vực cầu G đưa cho Đ2 2.200.000 đồng, Đ2 cầm tiền rồi bảo T đi ra gốc cây bên bờ sông thuộc xã K cách đó khoảng 300 m lấy ma tuý. T đi theo chỉ dẫn của Đ2 đến gốc cây thấy có 01 túi nilon kích thước 07cm x 11cm, bên trong có 02 viên ma túy loại kẹo cùng 01 túi nilon kích thước 2,5cm x 2,5cm chứa ma túy loại Ke. T cầm túi ma tuý trên ở tay trái rồi điều khiển xe đến quán nước ở khu đất mới thuộc xã K gặp L đang ngồi uống nước cùng với Việt A, T4, anh Bùi Tuấn H3 - sinh năm 2004 và anh Phạm Mạnh H4 - sinh năm 2004, đều trú tại: thôn P, xã K, huyện K. L bảo T cho Việt A và T4 đi sử dụng ma tuý cùng, T đồng ý. L bảo T để xe máy ở quán nước để trả T6 (sau khi được người nhà chở về, T6 gọi điện nhờ L đem xe ra quán nước để có người đến lấy). Do không có xe, T nhờ anh H3 chở đến nhà nghỉ T10, địa chỉ: khu G, thị trấn P, huyện K do bà Phạm Thị H2 làm chủ nhà nghỉ. Anh H3 điều khiển xe máy mượn của mẹ ruột chở H4 và T. Việt A điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vario không đeo biển số (mượn của bà nội) chở T4 và L đi đến nhà nghỉ T10. Trên đường đi, T gọi vào điện thoại di động Iphone 5 của Đ1 bảo Đ1 ra cổng ga Phú T8 và bảo anh H3 dừng xe đón Đ1 đi cùng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến gần nhà nghỉ T10, anh H3 chở anh H4 đi về. T, Đ1, L, Việt A và T4 vào trong nhà nghỉ. T thuê phòng 301. Sau đó, tất cả lên phòng. Khi vào phòng 301, Việt A đem chiếc loa không dây đem theo để trên chiếc kệ kê giữa 02 giường ngủ. Đ1 cầm chiếc ba lô của T chuẩn bị trước đó. T cầm túi nilon đựng ma tuý để trên kệ ti vi. Đ1 cầm 02 viên ma túy loại kẹo bẻ ra làm đôi, để lại trên kệ ti vi. T lấy 02 nửa viên ma túy loại kẹo cho vào vỏ túi nilon kích thước 07cm x 11cm, dùng chiếc cốc nhựa có sẵn trong phòng nghiền 02 nửa viên ma túy thành bột, rồi đổ ma tuý vào cốc nhựa hòa với nước bò húc. T uống ma túy pha trong nước bò húc rồi đưa cho L. L uống xong đưa cho Việt A uống hết. Đăng lấy 01 nửa viên ma tuý loại kẹo uống trực tiếp, còn một nửa viên Việt A nghiền nhỏ ra theo cách của T và đổ vào cốc nhựa đưa cho T4 sử dụng.
Sau khi sử dụng ma túy loại kẹo xong, T lấy chiếc đĩa sứ và đèn nháy led từ trong ba lô ra rồi cắm đèn nháy led vào ổ điện ở kệ đầu giường. Đ1 lấy trong túi quần đang mặc ra 01 bao thuốc lá Thăng Long và 01 chiếc bật lửa ga màu xanh để trên kệ ti vi. T dùng chiếc bật lửa ga hơ phần dưới đĩa rồi để đĩa lên kệ ti vi. L cầm đĩa lên và tiếp tục dùng bật lửa hơ dưới đĩa. Sau đó, T lấy ma tuý loại Ke trong túi nilon đổ ra đĩa rồi đem hai vỏ túi nilon đựng ma tuý vứt vào trong bồn cầu nhà vệ sinh. Khi đi từ nhà vệ sinh ra, T lấy chiếc thẻ nhựa cứng gắn cùng chìa khóa phòng 301 đem nghiền ma túy loại Ke mịn ra, lấy giấy nội quy của nhà nghỉ được ép plastic chia số ma túy trên đĩa thành nhiều đường nhỏ rồi lấy một ít ma tuý đưa lên mũi hít. Sau đó, T để đĩa lên kệ ti vi rồi ra giường nằm. Một lúc sau, L dùng móng tay lấy một ít ma tuý trên đĩa đưa lên mũi hít.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Đinh Diệu L1 vào phòng 301 nhà nghỉ T10 (do trước đó Đ1 dùng điện thoại di động Iphone 5 gọi cho L1 rủ L1 đến sử dụng ma túy). Khi L1 vào phòng,T cầm đĩa đựng K1 đưa cho L1 nhưng L1 không sử dụng. T lại để đĩa ma túy trên kệ ti vi. Đ1 lấy bao thuốc lá Thăng Long trên kệ ti vi đổ hết những điếu thuốc ra ngoài và tách giấy bạc trong vỏ bao ra, T lấy giấy bạc cuộn thành ống hút. T, Đ1, L, Việt A và T4 lần lượt thay nhau dùng ống hút để hít ma tuý. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi T, L, Đ1, Việt A, T4 sử dụng ma túy xong, đang cùng L1 ngồi chơi nghe nhạc tại phòng 301, bị Tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện K đến kiểm tra.T lấy chiếc đĩa sứ đem ra ngoài ban công ném xuống đất. Lực lượng công an tiến hành thu giữ trên mặt kệ ti vi 01 cốc nhựa hình trụ, bên trong cốc còn bám dính chất cặn màu trắng, 01 giấy nội quy nhà nghỉ được ép plastic một đầu trên của giấy bám dính chất bột màu trắng, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 ống hút được cuộn bằng giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá, trong lòng ống hút bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ nhựa bám dính chất bột màu trắng gắn theo chìa khóa phòng 301. Thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh 01 túi nilon kích thước 7cm x 11cm bị ướt; 01 túi nilon kích thước 2,5cm x 2,5cm, bên trong bám dính chất bột màu trắng; thu giữ trên mặt tủ kệ kê giữa 02 giường ngủ 01 đèn nháy led và 01 loa không dây; tìm kiếm và thu giữ tại vị trí lối đi cách nhà nghỉ T10 khoảng 20 mét 01 chiếc đĩa sứ bị vỡ thành nhiều mảnh, mặt trên của các mảnh vỡ bám dính chất tinh thể màu trắng, mặt dưới của các mảnh vỡ bám dính muội màu đen.
Tại bản Kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 01/5/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh H kết luận: Chất bột màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại Ketamine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất bột màu trắng bám dính trong lòng ống hút được cuộn bằng giấy bạc, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại Ketamine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất bột màu trắng bám dính trên tờ giấy nội quy của nhà nghỉ T10 được ép plastic, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại Ketamine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất bột màu trắng bám dính trên thẻ nhựa gắn theo chìa khoá phòng 301, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại Ketamin, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Chất bột màu trắng bám dính bên trong cốc nhựa hình trụ, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại MDMA, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Quá trình giám định có tìm thấy chất ma tuý loại MDMA trong mẫu chất lỏng không màu bám dính bên trong túi nilon màu trắng, niêm phong gửi đến giám định, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được thể tích. Chất bột màu trắng bám dính trên các mảnh vỡ đĩa sứ, niêm phong gửi đến giám định là ma tuý loại Ketamine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không khác định được khối lượng.
Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Tùng L, Chử Văn Đ1, Đinh Việt A và Phạm Tiến T4 ngày 29/4/2024 đều dương tính với ma túy loại Ketamine và MDMA. Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Đinh Diệu L1 ngày 29/4/2024 âm tính với ma tuý.
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 12/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố Nguyễn Mạnh T và Chử Văn Đ1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Tùng L và Đinh Việt A về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại Quyết định bổ sung quyết định truy tố số 01 /QĐ-VKS ngày 13/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã bổ sung truy tố đối với Nguyễn Tùng L, Đinh Việt A về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phân tích chứng cứ tại hồ sơ và lời khai của các bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T, Chử Văn Đ1, Đinh Việt A và Nguyễn Tùng L đều phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Việt A và Nguyễn Tùng L, xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
- + Bị cáo Chử Văn Đ1 từ 8 năm đến 8 năm 3 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
- + Bị cáo Nguyễn Tùng L từ 6 năm đến 6 năm 3 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024.
- + Bị cáo Đinh Việt A từ 5 năm 7 tháng đến 6 năm, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/4/2024
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 ống hút được cuộn bằng giấy bạc và 01 tờ giấy nội quy của nhà nghỉ T10 được ép plastic trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T1; 01 thẻ nhựa gắn theo chìa khoá phòng 301; một cốc nhựa hình trụ và 01 vỏ túi nilon màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T2; các mảnh vỡ đĩa sứ màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T3, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 ba lô màu đen.
- + Trả lại 01 điện thoại di động Iphone XS cho bà Doãn Thị T3, sinh năm 1987, trú tại: thôn P, xã K, huyện K.
- + Trả lại 01 loa không dây cho bị cáo Đinh Việt A.
- + Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario không đeo biển số và 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus cho bà Lê Thị X, sinh năm 1958, trú tại: thôn C, xã K, huyện K.
- + Trả lại 01 điện thoại di động Iphone 5 cho anh Chử Văn K, sinh năm 1969, trú tại: Khu Đ, thị trấn P, huyện K.
- + Trả lại 01 đèn nháy led cho bị cáo Nguyễn Mạnh T.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Bà Lê Thị Thu H1 Người bào chữa cho bị cáo L, bị cáo Việt A phát biểu quan điểm: Nhất trí với nội dung truy tố của cáo trạng, bổ sung truy tố và đề xuất của kiểm sát viên về tội danh, điểm, khoản điều luật áp dụng đối với hai bị cáo, không bổ sung gì thêm. Đề nghị xử phạt bị cáo L từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù, bị cáo Việt A từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo L, bị cáo A và bị cáo L. Bị cáo Anh: Nhất trí quan điểm của người bào chữa, không bổ sung gì thêm.
Các bị cáo không có tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, xác định bà Lê Thị X, bà Phạm Thị H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, để đảm bảo quyền lợi cho người có quyền lợi liên quan, cần đưa bà X, bà H2 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan.
Người làm chứng vắng mặt không ảnh hưởng đến kết quả xét xử, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Người đại diện cho bị cáo chưa thành niên không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng hợp pháp.
[3]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản làm việc, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 28/4/2024, tại phòng 301, nhà nghỉ T10 thuộc khu G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Mạnh T là người khởi xướng, trực tiếp ứng tiền đi mua ma túy, thuê địa điểm, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy; Nguyễn Tùng L là người rủ rê Đinh Việt A, Phạm Tiến T4 cùng tổ chức sử dụng ma túy. Nguyễn Tùng L, Chử Văn Đ1, Đinh Việt A là người góp tiền mua ma tuý và tiền thuê địa điểm để T, Đ1, L, Việt A và cháu T4 sử dụng trái phép chất ma túy loại MDMA và Ketamine (trong đó Đinh Việt A, Nguyễn Tùng L và Phạm Tiến T4 là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo tổ chức cho hai người sử dụng trái phép chất ma túy trở lên, trong đó có bị cáo và người sử dụng ma túy khác là người từ đủ 13 đến dưới 18 tuổi. Các bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng phạm tội đối với hai người trở lên, phạm tội đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố, bổ sung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an, reo rắc cái chết trắng cho cộng đồng và xã hội, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của con người. Mặc dù, Nhà nước cấm mua bán, sử dụng ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhưng vì coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn đồng thuận góp tiền mua ma túy để sử dụng cho bản thân và cung cấp cho người nghiện khác cùng sử dụng, trong đó có cả bị cáo dưới 18 tuổi. Nhất là trong tình hình hiện nay, tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5]. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, cần đánh giá vai trò của từng bị cáo để lượng hình cho phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Mạnh T là người khởi xướng, trực tiếp ứng tiền đi mua ma túy, thuê địa điểm, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy nên giữ vai trò chính. Bị cáo L rủ bị cáo Việt A và cháu T4 sử dụng ma tuý, thống nhất cùng các bị cáo khác góp tiền mua ma túy và tiền thuê địa điểm giữ vai trò thứ hai. Bị cáo Đinh Việt A và Chử Văn Đ1 cùng thống nhất góp tiền mua ma túy và tiền thuê địa điểm là người thực hành tích cực, có vai trò ngang nhau, đứng vị trí thứ ba trong vụ án.
Do bị cáo Tùng L, bị cáo Việt A khi phạm tội từ đủ 16 đến dưới18 tuổi, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không vượt quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định theo khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.
[6].Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho các bị cáo một phần hình phạt
[8]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất hành vi, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo, trong đó có cả bị cáo chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 ống hút được cuộn bằng giấy bạc và 01 tờ giấy nội quy của nhà nghỉ T10 được ép plastic; 01 thẻ nhựa gắn theo chìa khoá phòng 301, một cốc nhựa hình trụ và 01 vỏ túi nilon màu trắng; các mảnh vỡ đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc ba lô màu đen, 01 điện thoại di động Iphone XS, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario không đeo biển, 01 điện thoại Iphone 6S Plus; 01 điện thoại Iphone 5; 01 bật lửa ga màu xanh, 01 loa không dây, 01 đèn nháy led.
- - Đối với 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 ống hút được cuộn bằng giấy bạc trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T1; một cốc nhựa hình trụ và 01 vỏ túi nilon màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T2; các mảnh vỡ đĩa sứ màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T3 hoàn lại sau giám định là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu hủy.
- - Đối với 01 tờ giấy nội quy của nhà nghỉ T10 được ép plastic; 01 thẻ nhựa gắn theo chìa khoá phòng 301 là của nhà nghỉ T10, chủ nhà nghỉ bà Phạm Thị H2 không yêu cầu nhận lại, căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tịch cho tiêu hủy.
- - Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo T sử dụng liên lạc đi mua ma túy sau đó bị cáo làm rơi mất, không thu giữ được, không đặt ra giải quyết.
- - Đối với chiếc ba lô màu đen do bị cáo T giao nộp, bị cáo sử dụng đựng công cụ sử dụng ma túy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tịch thu cho tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS do bị cáo Nguyễn Tùng L giao nộp, chiếc điện thoại này bị cáo mượn của bà Doãn Thị T3 (mẹ đẻ). Bà T3 không có lỗi trong việc để bị cáo L sử dụng vào việc liên lạc, rủ rê bị cáo khác vào việc sử dụng ma túy. Bà T3 có nguyện vọng được nhận lại. Hội đồng xét xử xác định chiếc điện thoại này không phải là vật chứng của vụ án, cần trả lại cho bà T3.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario không đeo biển số cùng 01 điện thoại Iphone 6S Plus do bị cáo A giao nộp. Đây là những tài sản, bị cáo mượn của bà nội là bà Lê Thị X. Bà X không có lỗi trong việc để bị cáo A sử dụng làm phương tiện đi đến nhà nghỉ T10 và là phương tiện liên lạc với bị cáo khác vào việc tổ chức sử dụng ma túy. Bà X có nguyện vọng được nhận lại. Hội đồng xét xử xác định những tài sản này không phải là vật chứng của vụ án, cần trả lại cho bà X.
- - Đối với 01 điện thoại Iphone 5 do bị cáo Đ1 giao nộp là của ông Chử Văn K. Ông K không có lỗi trong việc để bị cáo Đ1 sử dụng liên lạc cho các bị cáo khác vào việc sử dụng ma túy. Ông K có nguyện vọng được nhận lại tài sản này. Hội đồng xét xử xác định tài sản này không phải là vật chứng của vụ án, cần trả lại cho ông K.
- - Đối với 01 bật lửa ga màu xanh, các bị cáo sử dụng làm công cụ sử dụng ma túy, là vật chứng của vụ án, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tịch thu cho tiêu hủy.
- + Đối với 01 loa không dây của bị cáo Việt A; 01 đèn nháy led của bị cáo T, không phải công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không phải vật chứng của vụ án cần trả lại cho hai bị cáo.
[10]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án phải nộp án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
[11]. Đối với người bán chất ma tuý cho bị cáo T không xác định được là ai, ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với cháu Phạm Tiến T4 tính đến ngày 28/4/2024 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K đã bàn giao T4 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Đ1, T, Việt A, Tùng L và Phạm Tiến T4, Công an huyện K đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với anh Bùi Tuấn H3, khi chở bị cáo T đến nhà nghỉ T10, anh H3 không biết bị cáo T đến đó để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bà Phạm Thị H2, sau khi cho T thuê phòng đã nghi ngờ bị cáo T cùng mọi người sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã trình báo Công an huyện K đến kiểm tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý đối với anh H3 và bà H2 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm điểm b, c khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án đối với các bị cáo. Căn cứ Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Việt A, bị cáo Nguyễn Tùng L;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh T, Chử Văn Đ1, Nguyễn Tùng L, Đinh Việt A phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
-
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T 09 (chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2024.
Xử phạt bị cáo Chử Văn Đ1 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2024.
Xử phạt bị cáo Đinh Việt A 06 (sáu) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29/4/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 ống hút được cuộn bằng giấy bạc và 01 tờ giấy nội quy của nhà nghỉ T10 được ép plastic trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T1; 01 thẻ nhựa gắn theo chìa khoá phòng 301; một cốc nhựa hình trụ và 01 vỏ túi nilon màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T2; các mảnh vỡ đĩa sứ màu trắng trong hộp giấy niêm phong ký hiệu T3, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 ba lô màu đen.
- + Trả lại cho bà Doãn Thị T3 01 điện thoại di động Iphone XS.
- + Trả lại cho bị cáo Đinh Việt A 01 loa không dây.
- + Trả lại cho bà Lê Thị X 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario không đeo biển số và 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus .
- + Trả lại cho ông Chử Văn K 01 điện thoại di động Iphone 5.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Mạnh T 01 đèn nháy led .
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Công an huyện K với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh T, Chử Văn Đ1, Nguyễn Tùng L, Đinh Việt A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Tùng L, bị cáo Việt A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Mạc Duy Phu |
Bản án số 63/2024/HS - ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (criminal case)
- Số bản án: 63/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T tổ chức cho ba người sử dụng trái phép chất ma túy.
