|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/8/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc S, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/7/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/7/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc S trình bày:
Vào năm 2012, bà S và ông C qua quen biết tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013, hiện đang sống chung với ông C.
Sau khi kết hôn bà S và ông C sinh sống tại ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên bà S về nhà cha mẹ ruột tại ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang sinh sống và ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay không có đoàn tụ trở lại.
Nay bà S cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà S yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013. Khi ly hôn bà S tự nguyện giao con chung Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013 cho ông Nguyễn Văn C nuôi dưỡng, bà S chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/7/2024 bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông C thừa nhận giữa ông C và bà S cưới nhau vào năm 2012, kể từ khi cưới nhau đến nay giữa ông C và bà S không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, nên ông C đồng ý ly hôn với bà S.
- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013. Khi ly hôn ông C yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013, ông C chưa yêu cầu bà S phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013 trình bày: Cháu là con chung của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Ngọc S, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với cha là Nguyễn Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét, giữa bà S và ông C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012 cho đến nay mà không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý..."
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”
Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“1. N, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Tại Điều 15 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con”
Đối chiếu các quy định nêu trên Tòa án không thể xem xét việc cho ly hôn hay không, vì bà S và ông C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quan hệ vợ chồng. Do đó, tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa bà S và ông C.
[2.2] Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013. Xét, con chung Nguyễn Thị Yến V hiện do ông C nuôi dưỡng, cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, cháu V cũng có nguyện vọng được sống chung với ông C, đồng thời bà S cũng tự nguyện giao cháu V cho ông C nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Thị Yến V cho ông C nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bị đơn chưa yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
[2.4] Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 14, 15, 51, 53, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ngọc S và ông Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 28/5/2013 cho bị đơn ông Nguyễn Văn C nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bị đơn chưa yêu cầu, nên không giải quyết.
- Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0005889, ngày 12/7/2024. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
