|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 25-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 và Thông báo thay đổi ngày xét xử số 256/TB-TA ngày 01 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Bá C, sinh năm 1985 tại Hải Phòng.
Nơi ĐKHKTT: Số C D, phường D, quận L, Hải Phòng; Chỗ ở: Số F Đ, quận H, Hải Phòng ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Bá D (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 17 ngày 02/4/2010 Tòa án nhân dân huyện An Dương, Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Án số 98 ngày 07/7/2017 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xử phạt 54 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản (đều đã được xóa án); bị tạm giữ ngày 05/6/2023; tạm giam ngày 13/6/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 02/6/2023, Ngô Bá C liên hệ với nam giới tên Q (sử dụng số điện thoại 0869.359.xxx) hỏi mua của Q 20 gam ma túy Ketamine và 20 viên thuốc lắc về đem bán lại kiếm lời. Q đồng ý và báo giá ma túy cho C là 160.000 đồng/1 viên thuốc lắc và 650.000 đồng/1 gam Ketamine. Tổng cộng giá của số ma túy trên là 16.200.000 đồng. Q hẹn C đến khu vực đường M, Hải Phòng để giao dịch. Tại đường M A, Hải Phòng, C đưa tiền cho Q và nhận lại cho 01 phong bì thư bên trong có 01 túi nilon đựng ma túy Ketamine và 01 túi nilon đựng 20 viên ma túy thuốc lắc. C đem ma túy về cất giấu tại căn phòng tầng 2 nhà số F Đ, H, Hải Phòng. Tại đây, C lấy ma túy Ketamine dùng cân chia ra 06 túi nilon nhỏ khác mục đích nếu có ai hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Sau đó, C lấy một ít ma túy Ketamine và 03 viên ma túy thuốc lắc ra sử dụng một mình. Đến ngày 04/6/2023, C mua một chiếc tủ gỗ để ở đầu giường rồi cho số ma túy trên vào 01 hộp giấy và cất vào ngăn kéo tủ. Khoảng 12 giờ ngày 05/6/2023, C nhận được điện thoại của 01 nam giới tên L (sử dụng số điện thoại 0388.981.xxx) gọi điện hỏi mua của C 15 viên thuốc lắc và 02 gam Ketamine. C đồng ý và hẹn giao ma túy tại khu vực chân cầu A, L, Hải Phòng. C lấy 15 viên ma túy thuốc lắc và 02 gam ma túy Ketamine đựng trong 02 túi nilon màu trắng cho vào 01 túi nilon màu trắng rồi cất vào trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555”. C cất vỏ bao thuốc chứa ma túy vào trong cốp xe mô tô BKS: 15B2-962.75 rồi điều khiển xe đến khu vực cầu A giao ma túy cho L. Khi đến khu vực chân cầu A thì C bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phát hiện, kiểm tra. Khi phát hiện thấy lực lượng Công an, C đã bỏ xe mô tô, chạy bộ về phía cầu A. Tổ công tác truy đuổi theo khoảng 20m thì bắt giữ được C. Tổ công tác tiến hành kiểm tra cốp xe mô tô trên đã phát hiện trong cốp xe có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “555” bên trong có 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 08x13cm đựng 15 viên nén màu nâu; 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm đựng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 2,5x2,5cm đựng tinh thể màu trắng. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của C 01 xe mô tô BKS: 15B2-962.75, số tiền 7.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Sau đó, Tổ công tác đã đưa C cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an quận L, Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét chỗ ở của C tại căn phòng tầng 2 nhà số F Đ, H, Hải Phòng và thu giữ: 01 hộp giấy bên trong có:
- 03 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng.
- 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 2,5x2,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 túi nilon màu trắng mép viền cam kích thước 08x11cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 05x07cm, bên trong chứa 02 viên nén màu nâu
Tại bản kết luận giám định số 465MT/PC09 ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Các viên nén thu giữ trong 01 túi nilon thu giữ của Ngô Bá C là ma túy, có khối lượng: 7,64 gam, là loại: MDMA; Tinh thể màu trắng thu giữ trong 02 túi nilon thu giữ của Ngô Bá C là ma túy, có khối lượng: 1,52 gam, là loại: Ketamine”.
Tại bản kết luận giám định số 464MT/PC09 ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “02 viên nén thu giữ trong 01 túi nilon thu giữ của Ngô Bá C là ma túy, có khối lượng: 1,01 gam, là loại: MDMA; Tinh thể màu trắng thu giữ trong 05 túi nilon thu giữ của Ngô Bá C là ma túy, có khối lượng: 14, 69 gam, là loại: Ketamine”.
Cơ quan điều tra đã xác minh được chủ thuê bao số điện thoại 0869.359.xxx là của Trần Anh T, sinh năm: 1988, trú tại: số C đường M, thôn A, H, T, Hải Phòng. Xác minh tại xã H thì không có công dân nào có thông tin như trên.
Cơ quan điều tra đã xác minh được chủ thuê bao số điện thoại 0388.981.xxx là của Bùi Huy L1, sinh năm: 1994, trú tại: thôn L, T, K, Hải Phòng. L1 khai: L1 là lái xe taxi tư nhân, C là khách quen của L1. Ngày 05/6/2023, L1 và C có liên lạc với nhau là để đi taxi và L1 liên lạc để trả đồ để quên trên xe. L1 không liên hệ với C để mua ma túy.
Tiến hành cho Ngô Bá C và Bùi Huy L1 đối chất: Kết quả cả hai giữ nguyên lời khai của mình.
- Về vật chứng: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận L: số tiền 7.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và số ma túy cùng vỏ bao bì sau giám định.
- Đối với 01 xe mô tô BKS: 15B2-962.75 hiện chưa rõ chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
Tại Cáo trạng 28/CT-VKSLC ngày 18/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Ngô Bá C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với người nam giới bán ma túy cho C: do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Bùi Huy L1: ngoài lời khai duy nhất của C về việc L1 mua ma túy của C thì không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa, Ngô Bá C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Ngô Bá C mức án từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói có số 464MT/PC09 và 465MT/PC09 (là vật Nhà nước cấm lưu hành); 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 2,5x2,5cm; 01 cân điện tử Marlboro; 01 ống hút đầu cắt vát (là đồ vật, tài sản không còn giá trị sử dụng).
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen số IMEI: 356695110801872 (là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội).
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen số IMEI: 358347/05/387246/4 và số tiền 7.000.000 đồng (là tài sản riêng không liên quan đến việc phạm tội).
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ; kết luận giám định của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 05/6/2023, Ngô Bá C có hành vi cất giữ trái phép 8,65gam MDMA và 16,21gam Ketamine, trong đó:7,64gam MDMA và 1,52 gam Ketamine Cương cất giữ trong người bị bắt quả tang tại khu vực dốc cầu A thuộc tổ I L, L, Hải Phòng; 1,01gam MDMA và 14,69 gam Ketamine Cương cất giữ tại nhà của C ở địa chỉ số F Đ, quận H,thành phố Hải Phòng mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ Luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 chất ma túy là 8,65 gam MDMA và 16,21 gam Ketamine, theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu của MDMA được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 28,83%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy ở thể rắn so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự là 16,21%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 45,04%. Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là dưới 100%. Bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Ngô Bá C theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Khi thực hiện hành vi này bị cáo biết rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm khác nhưng vì vụ lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy để bán lại cho người khác kiếm lời, nhân thân bị cáo đã 02 lần bị kết án mặc dù đều đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
[8] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình theo mức mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích lợi nhuận.Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong 02 bì thư niêm phong số 464MT/PC09 và 465MT/PC09) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh; 01 cân điện tử Marlboro; 01 ống hút đầu cắt vát thu giữ của bị cáo, hiện là đồ vật, tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự .
[11] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen số IMEI: 356695110801872 thu giữ của bị cáo, xét đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[12] Đối với 01 điện thoại N và số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ lại số tiền 7.000.000 đồng để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí và tiền phạt đối với bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Ngô Bá C 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2023.
Phạt tiền bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói có số 464MT/PC09 và 465MT/PC09; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 2,5x2,5cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 2,5x2,5cm; 01 cân điện tử Marlboro; 01 ống hút đầu cắt vát.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen số IMEI: 356695110801872 thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen số IMEI: 358347/05/387246/4 và số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 7.000.000đồng để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 19/01/2024 và Ủy nhiệm chi ngày 22/01/2024 giữa Cơ quan Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Bá C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Bá cương
