|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST Ngày 20-9-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Bà Phạm Thị Thanh Hiên
- - Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 824/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 892/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lã Thị Thanh T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I Khu C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số H Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Minh T1; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số I CN A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A tầng C khu tập thể C tầng L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02/10/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lã Thị Thanh T trình bày:
Bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng ngày 16/02/1999. Đến nay có hai con chung.
Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2019 do ông T1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng. Mặc dù bản thân bà T có nhiều cố gắng và hai bên gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được. Từ cuối năm 2021 đến nay hai bên đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay bà T xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông T1.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phạm Thị G, sinh ngày 18/01/1993 và Phạm Phương A, sinh ngày 28/7/2003. Cả hai con chung đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Minh T1 vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Tại các biên bản xác minh tại gia đình và nơi cư trú cho thấy đến nay hai bên không còn chung sống, ông T1 vẫn đăng ký thường trú tại: Số I CN A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng và sống tại căn nhà số A tầng C khu tập thể C tầng L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng nhưng thường xuyên vắng nhà nên các văn bản tố tụng tống đạt cho ông T1 đã được niêm yết theo quy định pháp luật..
Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi tiến hành xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký Toà án đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng các quy định về tố tụng; bị đơn không chấp hành quy định về tố tụng theo các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung quan hệ hôn nhân: Bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 kết hôn từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng ngày 16/02/1999 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên nảy sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ cuối năm 2021 đến nay do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của bà Lã Thị Thanh T, giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Minh T1.
Về con chung: Bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 có hai con chung là Phạm Thị G, sinh ngày 18/01/1993 và Phạm Phương A, sinh ngày 28/7/2003. Cả hai con chung đã trưởng thành nên không xét.
Về tài sản chung: Bà T trình bày vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; theo đơn khởi kiện, trình bày của đương sự và xác minh của Tòa án thể hiện: Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1963; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số I CN A, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số A tầng C khu tập thể C tầng L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án khởi kiện xin ly hôn giữa bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, bị đơn là ông Phạm Minh T1 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 1999 và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng ngày 16/02/1999 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
[4] Quá trình chung sống: Qua xác minh tại địa phương và đại diện gia đình cho thấy bà T và ông T1 nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2019. Đến nay hai ông bà đã không còn chung sống với nhau, ly thân mỗi người một nơi, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Quá trình giải quyết vụ án ly hôn tại Tòa án, ông T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không hợp tác, không có ý kiến gì về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Điều đó cho thấy ông T1 đã từ bỏ quyền cũng như không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật, không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân, việc vợ chồng đã sống ly thân thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Bởi vậy bà T yêu cầu được ly hôn ông T1 là có cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5] Về con chung: Bà Lã Thị Thanh T và ông Phạm Minh T1 có hai con chung là Phạm Thị G, sinh ngày 18/01/1993 và Phạm Phương A, sinh ngày 28/7/2003. Cả hai con chung đều đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Bà T trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí:
[7] Bà Lã Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lã Thị Thanh T được ly hôn ông Phạm Minh T1.
- - Về án phí: Bà Lã Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà T đã nộp đủ số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005815 ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Thủy- Thúy
