|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ Ngày: 19/8/2024 V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Nga |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Lê Cát Tường |
| 2. Bà Mai Thị Tiếp |
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện VKSND TP. tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 219/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 233/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 và “Quyết định hoãn phiên toà” số 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm: 1994 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố G, P. Q, P.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Trần Trọng T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Tổ dân phố G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Trần Trọng T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 02/12/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do do anh T1 không quan tâm đến gia đình, chơi bời bài bạc, nợ nần, chị T đã nhiều lần động viên góp ý nhưng anh T1 không sửa đổi, dẫn đến vợ chồng bất đồng, thường xuyên cãi vả. Mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên đã sống ly thân từ năm 2018 không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, sống ly thân đã lâu không còn tình cảm; Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa giải quyết cho chị ly hôn anh Trần Trọng T1;
Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 (hai) con chung là Trần Phạm Yến N, sinh ngày 22/6/2015 và Trần Phạm Quỳnh N1, sinh ngày 11/9/2017. Nay ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Phạm Quỳnh N1 và giao cháu Trần Phạm Yến N cho anh Trần Trọng T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Trần Trọng T1: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh T1 “Thông báo thụ lý”, và nhiều lần triệu tập anh T1 đến để làm bản tự khai nhưng anh T1 không có mặt theo giấy triệu tập và không có phản hồi nào tới Tòa án. Bà Đào Thị L1 (mẹ đẻ anh T1) cho biết anh chị kết hôn năm 2014, đến năm 2018 thì anh chị mâu thuẫn về lối sống và về kinh tế nên chị T đem con về nhà mẹ đẻ chị T ở từ 2018 đến nay; Anh chị có 2 con chung, từ khi anh chị ly thân cháu N ở với bà và anh T1, cháu N1 ở với chị T. Việc ly hôn do anh chị tự giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 13/5/2024 cháu Trần Phạm Yến N có nguyện vọng được ở với bố nếu bố mẹ ly hôn
Kết quả Tòa án xác minh tại địa phương (phường Q, TP.) xác định: Chị Phạm Thị T và anh Trần Trọng T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị T bỏ về sống cùng bố mẹ đẻ chị tại Tổ dân phố H, phường Q; Chị T và anh T1 có có 02 (hai) con chung là Trần Phạm Yến N và Trần Phạm Quỳnh N1. Lâu nay cháu N1 ở với chị T, cháu N ở với anh Tự tại Tổ dân phố 7, phường Q; Về tài sản chung nợ chung của anh chị địa phương không rõ; Yêu cầu ly hôn của chị T đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải ngày 12/7/2024, anh T1 không có mặt, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ thông báo phiên họp, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã gửi cho anh T1 “Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải" song anh T1 vẫn không có bất cứ phản hồi nào tới Tòa án.
Ngày 15/7/2024, Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa có Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 07/8/2024, quyết định đã được tống đạt hợp lệ cho chị T và anh T1. Tại phiên tòa ngày 07/8/2024, anh T1 vắng mặt lần thứ nhất, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 07 giờ 30 phút ngày 19/8/2024. “Quyết định hoãn phiên tòa” đã tống đạt hợp lệ cho chị T, anh T1.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Trọng T1 vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Chị Phạm Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt; Trong đơn chị đồng thời xin giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của chị T kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định, anh T1 không chấp hành quy định. Tại phiên tòa hôm nay, anh T1 vắng mặt lần thứ 2, không có lý do; Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị T anh T1; Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Án phí: chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Phạm Thị T, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn; Nơi cư trú của bị đơn tại thành phố T, do đó Tòa án nhân dân TP. thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 - Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh T1 vắng mặt lần thứ 2, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa (có ấn định thời gian mở lại phiên tòa). HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị T anh T1
[2] Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Trần Trọng T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa ngày 02/12/2014, như vậy là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2018, chấm dứt quan hệ về tình cảm và kinh tế. Đến nay chị T xác định: Mâu thuẫn giữa chị và anh T1 không thể khắc phục được; Vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn; Mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh T1; Trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh T1. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh T1 không có mặt, cũng không có bất cứ phản hồi nào tới Tòa án thể hiện mong muốn đoàn tụ gia đình.
Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của chị T là có cơ sở và tự nguyện, HĐXX căn cứ quy định tại khoản 1 điều 56 - Luật HN&GĐ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
[2.2] Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Trần Trọng T1 có hai con chung là Trần Phạm Yến N, sinh ngày 22/6/2015 và Trần Phạm Quỳnh N1, sinh ngày 11/9/2017. Từ khi anh chị sống ly thân cháu N ở với anh T1, cháu N1 ở với chị T. Nay ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Phạm Quỳnh N1 và giao cháu Trần Phạm Yến N cho anh Trần Trọng T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét đề nghị của chị T là tự nguyện và phù hợp; Đảm bảo quyền lợi của con; Tránh được sự xáo trộn không cần thiết trong đời sống sinh hoạt học tập của con; Phù hợp với nguyện vọng của con và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân & Gia đình nên HĐXX chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
[3] Về án phí: Chị Phạm Thị T là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 6; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình
Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị T
Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Trần Trọng T1.
Về con chung: Giao Trần Phạm Quỳnh N1, sinh ngày 11/9/2017 là con chung của chị T anh T1 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao Trần Phạm Yến N, sinh ngày 22/6/2015 là con chung của chị T anh T1 cho anh Trần Trọng T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.
Chị Phạm Thị T và anh Trần Trọng T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu, HĐXX không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001406 ngày 10/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Chị T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T, anh Trần Trọng T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 63/2024/HNGĐ ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị T - Trần Trọng T Ly hôn
