Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/DS-PT

Ngày: 18/7/2024

"V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết.

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu và bà Quách Thị Phương Thúy

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 16/2024/TLPT-DS ngày 06/3/2024 về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2024/QĐXX-PT ngày 30/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐ- PT ngày 27/6/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Vũ Trung H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1962; đều ở địa chỉ: Số E, ngõ A, đường Q, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Có mặt).
  2. Bị đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1950; địa chỉ: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Chị Vũ Thị L, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Có mặt).
    • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị L: Ông Đặng Hồng D - Luật sư, Công ty L7, Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: Số I Lô B L, quận H, thành phố Hà Nội (Đề nghị vắng mặt).
    • Anh Vũ Văn T, sinh năm 1976, nơi cư trú cuối cùng: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
    • Chị Vũ Thị P, sinh năm 1979; địa chỉ: khu T, phường H, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
    • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị P: Ông Vũ Quang D1 - Luật sư, Văn phòng L8 - Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số H phố Chợ T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).
    • Anh Vũ Ngọc T1, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
    • Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1950; địa chỉ: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thị N, chị Vũ Thị L, chị Vũ Thị P và anh Vũ Ngọc T1: Anh Bàn Trung H3, sinh năm 1997, địa chỉ: Số C B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn trình bày: Năm 2010, vợ chồng ông L1, bà N nói chuyện thỏa thuận bán cho vợ chồng ông H3 mảnh đất ở thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương để xây nhà thờ. Ngày 22/01/2010, vợ chồng ông L1 cùng với con của ông L1 bà N và vợ chồng ông H3 cùng đo đạc, nhận phần đất chuyển nhượng. Lúc đầu ông L1 nói bán cho vợ chồng ông toàn bộ diện tích đất của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1455 cấp ngày 02/02/1996, nhưng đến khi đo đạc thì ông nói với vợ chồng ông L1 là “cháu chỉ lấy đến đây thôi” (tức là lấy đến chỗ mà sau này xây tường bao phía sau nhà thờ), còn lại phần đất giáp nhà ông L1 thì để ông L1 sử dụng. Sau khi đo đạc thống nhất với nhau xong, cùng ngày 22/01/2010, vợ chồng ông L1, bà N và vợ chồng ông lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: Ông L1, bà N chuyển nhượng cho vợ chồng ông H3 quyền sử dụng thửa đất số 512 có tứ cạnh: phía Nam giáp nhà ông L2 dài 20,2 m; phía Tây giáp nhà ông T2 dài 22,2m; phía Đông giáp nhà ông T3 dài 24,8m; phía Bắc giáp nhà ông L1 dài 14m. Tổng diện tích đất chuyển nhượng khoảng 300m². Mục đích: Cho vợ chồng ông H3 xây nhà thờ. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 20 triệu đồng; Số tiền người nhận chuyển nhượng đặt cọc trước là 10 triệu đồng. Tuy nhiên, sau đó ông L1 lại nói với ông là lấy thêm 40 triệu nữa (tức tổng số tiền bán đất là 60 triệu đồng), ông H3 cùng đồng ý vì lúc đó ông biết nhà ông L1 đang nợ Ngân hàng, điều kiện kinh tế khó khăn, là bác cháu trong gia đình nên ông không tính toán gì. Vì vậy, tổng số tiền ông đã trả cho vợ chồng ông L1 là 50 triệu đồng, số tiền còn lại 10 triệu đồng hai bên thống nhất sẽ trả nốt khi ông H3 nhận được sổ đỏ. Nhưng khi trả tiền và viết giấy biên nhận, ông L1 nói hiến 05 triệu cho nhà thờ, nên hai bên nhất trí lại sẽ trả nốt 05 triệu khi ông H3 nhận được giấy chuyển quyền sử dụng đất (sổ đỏ), thể hiện tại Giấy biên nhận ngày 24/01/2010 có chữ ký của ông H3, bà H1, ông L1, bà N (L3). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/01/2010 và giấy biên nhận ngày 24/01/2010 chỉ có chữ ký của ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và vợ chồng ông, không công chứng, chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đến khoảng cuối năm 2010, vợ chồng ông tiến hành xây nhà thờ trên mảnh đất đã mua. Lúc xây, ông L4 chỉ đến đâu nhà ông xây đến đó, không có tranh chấp, không ai phản đối hay có ý kiến gì. Trong quá trình xây dựng nhà thờ, do vợ chồng ông ở thành phố H không thể thường xuyên có mặt nên đã nhờ ông L4 bà N nhận nguyên vật liệu, trông nom, giám sát trong suốt quá trình xây dựng. Đến tháng 4/2011, vợ chồng ông xây xong toàn bộ công trình khuôn viên của nhà thờ như hiện nay.

Vì thời điểm vợ chồng ông mua đất của ông L4 bà N, thửa đất đó vẫn mang tên cụ Vũ Văn M (bố đẻ ông L4), nên ông L4 cần phải làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận từ cụ M sang ông L4 thì mới làm thủ tục tách thửa cho vợ chồng ông được. Do vậy, ông L4 đã bảo ông chờ ông L4 và bà Vũ Thị H2 (em gái ông L4) đến Ủy ban nhân dân xã C để làm thủ tục, ký kết giấy tờ sang tên đất cho ông L4. Ngày 08/11/2012, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Vũ A Lâm đối với thửa đất số 512+ 526, tờ bản đồ số 03, diện tích 474m² tại thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, ông L4 đã đưa sổ đỏ cho ông để mang đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục sang tên. Ông cùng với ông L4 mang sổ đỏ đến Ủy ban nhân dân xã C gặp cán bộ địa chính để làm thủ tục. Tuy nhiên, đang trong quá trình làm thủ tục, chưa sang tên xong thì ông L4 chết ngày 20/01/2013.

Sau khi ông L4 chết, ông H3 nhiều lần gặp bà N nói chuyện đề nghị gia đình bà N làm nốt thủ tục sang tên sổ đỏ cho vợ chồng ông mảnh đất đã mua. Đồng thời, ông đến Ủy ban nhân dân xã C hỏi thủ tục sang tên thì cán bộ địa chính nói là cần phải có chứng minh thư nhân dân của những người liên quan là bà N và các con của ông L4. Nhưng vì bà N đã làm mất giấy chứng minh nhân dân nên ông H3 đã đưa bà N lên huyện để làm. Chị L, anh T1 cũng đưa chứng minh thư cho ông để làm thủ tục sang tên. Còn chị P lúc đầu chị ấy bảo đi lấy chồng thì hết trách nhiệm, nhưng sau đó bà N lại đưa chứng minh thư của chị P cho ông để làm thủ tục nhưng giấy chứng minh thư của chị P bị nhoè không có số. Sau đó một thời gian, chị P lại nói vì vợ ông láo nên không ký tên sang nhượng. Ông tiếp tục nói chuyện xin lỗi chị P để hoàn thiện nốt thủ tục sang tên thì chị P nói để chị ấy suy nghĩ. Đến cuối năm 2021 (âm lịch), ông về quê cúng tất niên nhà thờ, ông tiếp tục nói chuyện với gia đình bà N để hoàn thiện nốt thủ tục sang tên cho vợ chồng ông, việc này có sự chứng kiến của họ hàng, lúc đó bà N nói “gia đình nhà tôi không ai phản đối, chỉ có con P là nó không chịu, mà tôi không bảo được nó”. Sau đó, ông H3 nói với bà N về bảo các con xem xét thống nhất ký giấy tờ cho vợ chồng ông, sau Tết nếu bà N không giải quyết việc này được thì ông và bà N sẽ đi gặp chính quyền xã và cấp trên. Đến dịp Thanh Minh năm 2022, ông tiếp tục nói chuyện với chị P về việc hoàn thiện nốt thủ tục sang tên cho vợ chồng ông thì chị P nói không đồng ý, lý do chị P đưa ra là trước đây ông L4 đã cầm dao đuổi chị ấy khắp xóm nên chị ấy không bao giờ quên. Chị P còn nói với ông là “Mày để lại cho tao cái mảnh vườn thì tao đồng ý ký giấy cho mày” và “Tốt nhất là để hiện trạng như này, còn mày nói nữa là tao khùng lên, tao chửi nhau với mày đấy”. Lúc này ông H3 mới biết là chị P không đồng ý sang tên cho vợ chồng ông. Ông nghĩ trước đây ông L4 là người quyết định thì ông L4 đã chết, còn bà N đến lúc này không có chính kiến, chị P thì không đồng ý sang tên nên vợ chồng ông mới phải nhờ đến pháp luật giải quyết. Do vậy, ông bà khởi kiện đề nghị Toà án công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22/01/2010 giữa vợ chồng ông và ông L4, bà N.

- Bị đơn, bà Vũ Thị N và người đại diện trình bày: Bà N kết hôn với ông L4 vào tháng 9 năm 1972. Ông bà có các con chung là: Chị Vũ Thị L, anh Vũ Văn T, chị Vũ Thị P, anh Vũ Ngọc T1. Ngày 22 tháng 01 năm 2010, giữa vợ chồng bà với vợ chồng ông H3 có kí kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: Vợ chồng bà chuyển nhượng cho ông H3 bà H1 một mảnh đất, cụ thể diện tích bao nhiêu bà không nhớ cụ thể, chồng bà là ông L4 bảo bà kí thì bà kí. Thời gian đó ông H3 chỉ trao đổi việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất đó với chồng bà là ông L4, còn bà không biết cụ thể như thế nào. Đến khi ông H3 đào móng xây nhà thờ thì các con bà về mới biết và không đồng ý bán, ông L4 có vác dao đuổi các con. Lúc mua bán, ông H3 bà H1 bảo trả cho vợ chồng bà 60.000.000 đồng nhưng mới trả 50.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng nữa ông H3 bà H1 chưa trả. Trong giấy biên nhận ngày 24 tháng 01 năm 2010 thể hiện ông H3, bà H1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho vợ chồng bà, số tiền còn lại là 5.000.000 đồng sẽ được giao trả hết khi ông H3 nhận được giấy chuyển quyền sử dụng đất (sổ đỏ) có chữ kí của vợ chồng ông H3 và vợ chồng bà N. Bà xác định trong giấy biên nhận ghi số tiền còn lại 05 triệu là không đúng, mà đúng phải là còn 10.000.000 đồng. Mục đích ông H3 bà H1 mua đất của vợ chồng bà để làm nhà thờ, vì chồng bà và ông H3 có họ hàng nên vợ chồng bà mới để đất cho. Sau đó, ông H3 đã xây nhà thờ, vì vợ chồng ông H3 ở thành phố H không về được thường xuyên, nên vợ chồng ông H3 nhờ bà trông nom, thắp hương, thắp khói. Lúc bán đất, thửa đất mang tên cụ M (bố ông L4). Sau này thửa đất sang tên ông L4 thì bà không biết. Cụ M kết hôn với cụ Lê Thị L5, cụ L5 chết sau cụ M, cụ thể chết năm nào bà không nhớ. Nay ông H3, bà H1 khởi kiện đề nghị Toà án công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22 tháng 01 năm 2010 giữa vợ chồng ông H3 và vợ chồng bà thì bà không đồng ý, bà N đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng đó là vô hiệu, buộc vợ chồng ông H3 phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại đất cho gia đình bà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( bà Vũ Thị H2) trình bày: Bố của bà là cụ Vũ Văn M, mẹ của bà là cụ Lê Thị N1. Bố mẹ bà có những người con, gồm: Ông Vũ Anh L4, bà H2 và các ông Vũ Xuân H4, Vũ Văn T4 (đều là liệt sĩ, chưa có vợ con). Bà không liên quan, không biết đất cát của bố mẹ bà như thế nào. Bà không biết sổ đỏ cấp cho bố mẹ bà như thế nào. Bà không nhớ cụ thể năm nào nhưng ông L4 có gọi bà về và ông L4, ông H3 đi cùng bà ra Ủy ban nhân dân xã C ký giấy tờ, bảo bà ký thì bà ký chứ bà không biết cụ thể thứ gì. Ông H3 mua đất với kích thước, diện tích cụ thể thế nào bà không biết. Trước đây ông L4 còn sống, ý kiến của bà là bảo ông L4 chỉ được bán cho ông H3 từ giáp ranh với bà L6 đến bờ gô sân nhà thờ nhưng sau đó bà sang thì đã thấy nhà ông H3 xây đến cửa sổ rồi. Nay bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án không triệu tập bà.

- Biên bản làm việc với đại diện Ủy ban nhân dân xã C thể hiện:

Năm 2012, bà Vũ Thị H2 là em gái của ông Vũ Anh L4 (con cụ M) đến UBND xã C gặp cán bộ địa chính làm thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế đối với thửa đất T512+ A526 do UBND tỉnh H (nay là tỉnh Hải Dương) cấp ngày 02/02/1996 cho cụ Vũ Văn M, để lại tài sản trên cho ông Vũ A L4 sử dụng. Bà Vũ Thị H2 đã ký vào văn bản phân chia di sản thừa kế và văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Sau đó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T đã hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vũ Anh L4.

Theo hồ sơ 299, tờ bản đồ số 09 là thửa 171, diện tích 646m² đứng tên chủ sử dụng là cụ Vũ Văn M, sử dụng chính thức, loại đất T (Thổ). Ngày 02/02/1996, UBND tỉnh H (nay là tỉnh Hải Dương) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 512, tờ bản đồ số 3, diện tích 354m² (trong đó có 300m² đất ở, 54m² đất vườn thừa hợp pháp lâu dài) và thửa đất số 526, tờ bản đồ số 3, diện tích 120m² đất ao, tổng diện tích được cấp 474m² mang tên cụ Vũ Văn M. Ngày 08/11/2012, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 512 + 526, tờ bản đồ số 3, diện tích 474m² (Trong đó: Đất ở nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm khác 54m², đất nuôi trồng thuỷ sản 120m²) mang tên ông Vũ Anh L4.

- Biên bản xem xét, thẩm định tài sản ngày 09/11/2023 thể hiện: Thửa đất số 512+ 526, tờ bản đồ số 3 tại P, xã C, huyện T mang tên ông Vũ A Lâm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/11/2012.

Khuôn viên phần nhà thờ có tứ cạnh như sau : Phía Bắc giáp với thửa đất bà N đang sử dụng có kích thước (4,38 + 6,78 + 2,68)m ; Phía Đông giáp vườn nhà bà N và đất nhà ông T3 dài (17,16 + 7,60)m ; Phía Nam giáp đất nhà bà L6 và 1 phần ngõ đi có kích thước (14,51 + 1,85 + 3,51 + 0,66 + 0,09)m; Phía Tây giáp nhà ông T2 dài (4,90 + 16,67)m. Tổng diện tích khuôn viên nhà thờ là 396,9m². Phần đất còn lại phía Bắc nhà thờ (thuộc thửa số 512+526): Phía Bắc giáp ao tập thể (do UBND xã quản lý) và giáp với phần đất nhà anh Thục d (4,55+1,05+1,80)m ; Phía Đông giáp với đất bà N đang ở dài (7,78 + 5,29)m. Phía Nam giáp đất nhà thờ dài (6,78 + 4,38)m. Phía Tây giáp đất nhà ông T2 dài (0,86 +0,75 +3,30 + 3,16 + 1,78 + 3,65)m. Tổng diện tích là 96,2m². Các tài sản trên đất khuôn viên nhà thờ gồm: 01 nhà thờ diện tích 53,1m², khung cột mái bằng bê tông cốt thép, trên dán ngói đỏ, chiều cao mái điểm thấp nhất là 2,6m, điểm cao nhất là 4,5m; tường xây gạch 220mm, móng đóng cọc tre; nền lát gạch gốm đỏ (40 x 40)cm; Hè nhà thờ, diện tích 11,1m², nền lát gạch gốm đỏ (30 x 30)cm, dưới nền xây xung quanh hè bằng gạch, nhà thờ và hè xây năm 2011; 01 sân gạch gốm đỏ diện tích 103,8m²; 01 sân trạt bê tông diện tích 48,5m²; 01 bể nước sau nhà thờ diện tích 3,8m² x 1,4m = 5,3m³ xây gạch chỉ ; Tường bao giáp cổng dài 4,9m của nhà ông T2 xây gạch chỉ, cao 1,97m, tường 110, xây năm 2011; 01 đoạn tường bao giáp nhà ông T2, do nhà ông H3 xây gạch chỉ, cao 1,97m, dài 16,67m, tường 110, xây năm 2011; 01 đoạn tường phía sau nhà thờ, tường 110, gạch chỉ xây năm 2011; 01 đoạn tường bao giáp đất bà N dài 17,16m, cao 1,45m, tường 110, gạch chỉ ; 01 đoạn tường dài 7,6m, cao 2,07m, tường 110, gạch chỉ ; 01 đoạn tường phía trước nhà thờ giáp nhà bà L6 dài 14,5m + 1,8m, cao 2,07m, gạch chỉ ; 02 cột cổng kích thước (57 x 50 x 270) cm ; 01 cổng sắt hộp, kích thước (260 x 250) cm ; 01 mái cổng bê tông cốt thép, dày 10cm, diện tích 5,3m²; 06 cây cau đường kính gốc 15cm ; 02 cây mít đường kính gốc 20cm ; 01 cây gỗ xưa gốc phi 25cm ; 01 cây vải đường kính tán 2,5m ; 01 cây hồng xiêm đường kính gốc 0,5cm ; 01 cây ngọc lan đường kính gốc 20cm ; 01 cây lộc vừng đường kính gốc 30cm ; 01 cây nhãn, đường kính tán 01m ; 01 cây sung, đường kính gốc 33cm ; 02 cây mai đường kính gốc 5cm, tán 1,2m, cao 1,5m ; 01 cây vạn tuế cao 1,5m, đường kính gốc 30cm.

- Kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá xác định: Về đất có giá 1.350.000đ/1m² và các tài sản liên quan trên đất do đương sự yêu cầu định giá là 293.246.100 đồng.

- Biên bản xác minh ngày 05/7/2023 tại Công an xã C thể hiện: Tại tờ số 60 Sổ đăng ký thường trú xóm A, thôn P, xã C, Q có tên Vũ Ngọc T5, sinh ngày 09/02/1976 quan hệ với chủ hộ là con, nghề nghiệp nơi làm việc ghi là lao động tự do ở miền N. Cột số 15 ghi là tạm treo. Đã bị gạch tên ghi chú là không có tên trong sổ hộ khẩu. Trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không có thông tin của anh Vũ Ngọc T5, sinh ngày 09/02/1976 là con của ông L4, bà N.

*Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 26/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, đã xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Vũ Trung H và bà Nguyễn Thị Thanh H1.

Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22/01/2010 giữa ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đối với phần diện tích đất là toàn bộ thửa đất số 526 và một phần đất nằm trong thửa số 512, tờ bản đồ số 3 xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương, tổng diện tích đất chuyển nhượng là 396,9m².

Ông Vũ Trung H và bà Nguyễn Thị Thanh H1 có quyền sử dụng diện tích đất trên và sở hữu các công trình, cây cối trên đất.

Ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 396,9m² như trên.

Ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho bà Vũ Thị N số tiền 05 triệu đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị N và các chị Vũ Thị L, chị Vũ Thị P, anh Vũ Ngọc T1 về việc đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/01/2010 giữa ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 vô hiệu và yêu cầu ông H bà H1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại đất cho gia đình bà N.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.

* Ngày 29/01/2024, các chị Vũ Thị P, Vũ Thị L và bà Vũ Thị N đều có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các chị L, P; người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày quan điểm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị HĐXX, xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp của chị P trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét về việc Tòa án sơ thẩm đã có những vi phạm về thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bị đơn, như: Không đưa ông Vũ Văn T6 (là hộ giáp ranh với đất ông H đang quản lý) có xây dựng một đoạn tường bao giáp cổng dài 4,9m vào tham gia tố tụng là thiếu; việc cấp sơ thẩm xác định vẫn còn thời hiệu khởi kiện cho bên nguyên đơn như lập luận của bản án sơ thẩm là không đúng quy định; việc áp dụng quy định Điều 688 của Bộ luật dân sự là không đúng vì ông L4 chết từ năm 2013, ông L4 tiến hành giao dịch chuyển nhượng đất năm 2010 là không đảm bảo về chủ thể giao dịch, đã ảnh hưởng đến quyền định đoạt của bà H2; Không định giá đất theo từng loại đất trên thực tế; việc không đưa bà Vũ Thị H2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngay từ đầu của quá trình tố tụng đã ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H2 khi giải quyết vụ án; không thụ lý yêu cầu phản tố tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa hai bên là vô hiệu, không chấp nhận yêu cầu của bị đơn buộc nguyên đơn tháo dỡ công trình xây dựng trên đất là vi phạm. Đề nghị áp dụng thời hiệu, xác định giao dịch chuyển nhượng đất giữa hai bên năm 2010 là vi phạm về chủ thể, vi phạm về hình thức hợp đồng, để xem xét hủy bản án sơ thẩm.

Ông H và bà H1 giữ nguyên lời khai, quan điểm trình bày tại cấp sơ thẩm, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm, bác toàn bộ nội dung kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự tham gia phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự thì thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà Vũ Thị N, các chị Vũ Thị L, Vũ Thị P; Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 26/01/2024 của TAND huyện Thanh Miện: Buộc nguyên đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho bà N và các anh T5, T1; các chị L, P số tiền 05 triệu đồng. Do sửa án sơ thẩm nên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Vũ Thị N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các chị Vũ Thị L, Vũ Thị P có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên xác định kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị L đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX (Hội đồng xét xử) tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà N và các chị L, P đề nghị xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định pháp luật. Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị P đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì có những vi phạm về thủ tục tố tụng, vi phạm về thời hiệu và chủ thể tham gia hợp đồng, không đảm bảo về hình thức hợp đồng theo quy định. HĐXX thấy rằng:

[2.1]. Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án thì thấy: Ngày 22/01/2010 và ngày 24/01/2010, ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và vợ chồng ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy biên nhận nhận tiền (có đầy đủ chữ ký của ông L4, bà N, ông H, bà H1), diện tích đất có tứ cạnh: phía Nam giáp nhà anh L2 dài 20,2 m; phía Tây giáp nhà anh T6 dài 22,2m; phía Đông giáp nhà anh T3 dài 24,8m; phía Bắc giáp nhà ông L4 dài 14m. Tổng diện tích đất chuyển nhượng khoảng 300m². Mục đích chuyển nhượng: cho vợ chồng ông H xây nhà thờ. Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu thỏa thuận là 20 triệu đồng, số tiền người nhận chuyển nhượng đặt cọc trước là 10 triệu đồng, sau đó ông L4, bà N lấy thêm 40 triệu nữa (tức tổng số tiền bán đất là 60 triệu đồng) ông H, bà H1 đồng ý. Sau đó vợ chồng ông H đã trả cho vợ chồng ông L4, bà N là 50 triệu đồng, ông L4 đã tự nguyện cho ông H 05 triệu để công đức vào việc xây nhà thờ của ông H nên hai bên thống nhất số tiền còn lại 5 triệu đồng, vợ chồng ông H có trách nhiệm trả nốt khi ông H nhận được sổ đỏ. Ông L4 đã tiến hành việc đo xác định mốc giới đất, giao diện tích đất đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông H ngay sau đó. Cuối năm 2010, vợ chồng ông H đã xây dựng nhà thờ và các công trình liên quan trên phần đất nhận chuyển nhượng, có việc ông H nhờ vợ chồng ông L4, bà N là người trông coi thợ và việc mua nguyên vật liệu trong quá trình xây dựng nhà thờ vì ông H sống ở nơi khác (TP. Hải Dương) không có điều kiện giám sát trông coi việc xây dựng. Sau khi bà Vũ Thị H2 làm thủ tục từ chối nhận di sản của bố mẹ để lại theo quy định, ông L4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 512, 526, diện tích là 474 m², tại tờ bản đồ số 03 của UBND xã C vào ngày 08/11/2012, sau đó ông L4 đã giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho ông H để ông H đi liên hệ làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định, trong khi chờ các cơ quan chức năng hoàn thiện thủ tục quy định thì ông L4 chết. Ngày 14/8/2016, bà N đã làm đơn đề nghị UBND xã C với nội dung tạo điều kiện hoàn thiện thủ tục sang tên diện tích đất vợ chồng bà đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông H năm 2010, bà xác định việc chuyển nhượng đất này là có thật, hai bên không có tranh chấp gì (BL: 11-12), bà Vũ Thị H2 có lời khai xác định không có ý kiến gì tranh chấp đối với diện tích đất ông L4 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông H vào năm 2010, bà có biết việc ông L4 bán đất cho ông H và xây dựng nhà thờ trên đất ông L4 bán nhưng bà không phản đối gì. Do vậy, có căn cứ xác định giữa vợ chồng ông H và bà L3, ông L4 có việc chuyển nhượng diện tích đất nêu trên vào năm 2010, từ khi hai bên làm hợp đồng chuyển nhượng đất đến trước khi ông L4 chết thì thấy ông L4, bà N là hoàn toàn tự nguyện với mong muốn chuyển nhượng diện tích đất nêu trên cho vợ chồng ông H, để vợ chồng ông H là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất này. Theo quy định của pháp luật, vợ chồng ông L4, bà N là người có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất trên cho vợ chồng ông H, việc chuyển nhượng đất là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

[2.2]. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất nêu trên giữa vợ chồng ông H và bà N, ông L4 năm 2010.

Khi ký kết hợp đồng, giấy nhận tiền chuyển nhượng đất các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu sử dụng của các bên; mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên thiết lập, tuy không thực hiện công chứng, chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là chưa đúng quy định về hình thức theo quy định của Luật đất đai, nhưng hợp đồng đã ghi cụ thể thửa đất, diện tích, kích thước đất, tứ cạnh tiếp giáp, mục đích sử dụng, giá chuyển nhượng phù hợp với thực tế khi giao dịch và các bên đều đã ký tên xác nhận, việc ký kết hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc gì. Hai bên đã có việc giao đất và nhận tiền trong thực tế, bên mua đất đã xây dựng nhà thờ và các công trình để sử dụng ổn định từ năm 2010 đến khi làm thủ tục khởi kiện tại Tòa án; Hai bên đã có việc giao nhận tiền theo đúng cam kết và thỏa thuận ghi trong hợp đồng, thực tế vợ chồng ông H đã thanh toán trả bà N, ông L4 số tiền là 50 triệu đồng, theo giấy biên nhận tiền ngày 24/01/2010 (BL: 08). Như vậy bên mua đã thanh toán quá 2/3 giá trị quyền sử dụng đất cho bên bán, căn cứ theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 của Bộ luật dân sự và án lệ số 55/2022/AL ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên giữa các bên tuy không đảm bảo tuân thủ quy định về hình thức, nhưng theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa án vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

[2.3]. Đối với việc bị đơn, người liên quan kháng cáo về việc xem xét thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng chuyển nhượng đất giữa các bên: Như phân tích ở trên ông L4, bà N đã ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H vào năm 2010. Do quá trình thực hiện hợp đồng, ông L4 chết năm 2013 nên quá trình làm thủ tục sang tên chưa xong vì cần có sự đồng ý của những người được hưởng thừa kế của ông L4. Ông H cũng trình bày, từ năm 2013 đến năm 2022 đã đến gặp bà N và các con ông L4 để thực hiện tiếp hợp đồng nhưng đều bị từ chối. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy nhận tiền phản ánh rõ việc vợ chồng ông H trả cho vợ chồng ông L4 là 50 triệu đồng, số tiền còn lại 05 triệu đồng hai bên thống nhất sẽ trả nốt khi ông H nhận được sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mua). Do vậy, cần phải xác định thời hạn thực hiện giao dịch (hợp đồng chuyển nhượng đất) được hai bên xác lập từ khi xác lập giao dịch (năm 2010) cho đến khi ông H nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ các Điều 429, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015, vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật, việc Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự vẫn đang được thực hiện và tiến hành xem xét giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.4]. Đối với đề nghị của bà Vũ Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên năm 2010 là vô hiệu, buộc vợ chồng ông H phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại đất cho gia đình bà N;

Như phân tích, nhận định tại mục [2.1], HĐXX thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H và bà N, Ông Lâm lập ngày 21/1/2010 được xác định là hợp pháp, đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và phải thực hiện theo đúng nội dung thỏa thuận tại hợp đồng. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn, người liên quan về việc xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai bên là vô hiệu và công nhận quyền sử dụng diện tích đất mà nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L4, bà N năm 2010, đồng thời buộc nguyên đơn phải thanh toán số tiền còn thiếu chưa thanh toán cho gia đình bị đơn = 5 triệu đồng là có căn cứ, đúng quy định. Đất đã được giao cho nguyên đơn được quyền sử dụng hợp pháp nên nguyên đơn tiếp tục được sở hữu các tài sản tạo lập trên đất do nguyên đơn bỏ tiền ra tạo lập, do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu tháo dỡ các tài sản này của nguyên đơn đã tạo lập trên phần diện tích đất đã mua theo như yêu cầu của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự theo quy định của pháp luật nên việc không có thủ tục thông báo thụ lý yêu cầu phản tố trên của bị đơn không phải là việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị P cho rằng cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như đại diện bị đơn trình bày, ngoài ra có việc không đưa ông Vũ Văn T6- người đã xây dựng một đoạn tường bao là người có quyền lợi liên quan trong vụ án, HĐXX thấy rằng ông T6 là hộ giáp ranh với phần đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng, hai bên không có tranh chấp gì đoạn tường này, cấp sơ thẩm trong phạm vi yêu cầu của đương sự, chỉ xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất hai bên năm 2010, không xem xét phân chia giao quyền sử dụng đoạn tường này cho đương sự trong vụ án nên thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.

[2.5] Đối với việc án sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn phải trả nốt bà N số tiền 05 triệu còn lại theo thỏa thuận của hợp đồng chuyển nhượng đất năm 2010. HĐXX thấy đây là quyền về tài sản của vợ chồng ông L4, bà N (là tài sản hợp nhất) nên việc tuyên giao số tiền như cấp sơ thẩm là phù hợp, sau này những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông L4 có yêu cầu phân chia số tiền 05 triệu đồng này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[2.6]. Từ nhận định và đánh giá như trên, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ các yêu cầu kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện.

[3] Về án phí: Bà N và các chị L, P kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Đối với bà N theo quy định tại Điều 2 của Luật người cao tuổi được xác định là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị N và các chị Vũ Thị L, Vũ Thị P.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS- ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

  3. Căn cứ các Điều 116, 117, 119, 122, khoản 2 Điều 129, 500, 501, 502, 503, 688 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 106 Luật đất đai năm 2003; Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Vũ Trung H và bà Nguyễn Thị Thanh H1.

      Công nhận hiệu lực của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 22/01/2010 giữa ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đối với phần diện tích đất là toàn bộ thửa đất số 526 và một phần đất nằm trong thửa số 512, tờ bản đồ số 3 ở thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương có tứ cạnh: phía Nam giáp nhà bà L6 và ngõ xóm dài 0,09m + 0,66m + 3,51m + 1,85m + 14,51m; phía Tây giáp đất ông T6 dài 4,90m + 16,67m; phía Đông giáp vườn bà N và đất ông T3 dài 17,16m + 7,60m; phía Bắc giáp với phần đất còn lại của thửa 512 và nhà bà N dài 4,38m + 6,78m + 2,68m, tổng diện tích đất chuyển nhượng là 396,9m² (được giới hạn bởi các điểm từ A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12 đến A1- như sơ đồ kèm theo của án sơ thẩm, trong đó bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản 120m², đất ở nông thôn 234,7m² và đất trồng cây lâu năm khác 42,2m²). Ông Vũ Trung H và bà Nguyễn Thị Thanh H1 có quyền sử dụng diện tích đất trên và sở hữu các công trình, cây cối trên đất do ông H bà H1 tạo lập trên đất.

      Ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 396,9m² như trên tại thôn P, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.

      Ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho bà Vũ Thị N 5.000.000 triệu đồng (Năm triệu đồng).

      Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Vũ Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ quan là các chị Vũ Thị L Vũ Thị P và anh Vũ Ngọc T1 về việc đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/01/2010 giữa ông Vũ Anh L4, bà Vũ Thị N (L3) và ông Vũ Trung H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 là vô hiệu và yêu cầu buộc ông H, bà H1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại đất cho gia đình bà N.

    2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Vũ Thị N; Hoàn trả bà Vũ Thị N 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001594 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện. Các chị Vũ Thị L, Vũ Thị P mỗi người phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001592 ngày 20/02/2024, chị P đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001593 ngày 20/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện. Các chị L, P đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
    3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
    4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/7/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Thanh Miện;
  • - Chi cục THA huyện Thanh Miện;
  • - Các đương sự; người đại diện của đương sự;
  • - Lưu HS; lưu toà.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-PT ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 63/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Trung H - Vũ Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger