|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 63/2023/HSST Ngày 17/11/2023 |
*** |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Chu Mạnh Hà
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Ngô Phiên
- bà Nguyễn Thị Cương
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Mai – Thư ký Tòa án dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn H – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/HSST-QĐ ngày 02/11/2023, đối với các bị cáo:
- Trương Thế M, sinh năm 1984
- Hoàng Văn D, sinh năm 1987
- Hoàng Anh T2, sinh năm 1977
- Trần Văn Đ1, sinh năm 1990
Nơi ĐKHKTT: TDP Cả Dinh, thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ở: Thôn Trại Cọ, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Trương Ngọc A và bà Nguyễn Thị Thanh H1 (đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị S, sinh năm 1983 và có 01 con (sinh năm 2011);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 30/7/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị Đ; Có vợ là Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1989 và có 02 con (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 30/7/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: TDP Đ, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Hữu K (đã chết) và bà Đoàn Thị N; Có vợ là Lê Thị H2, sinh năm 1981 và có 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 30/7/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Văn Đ2 và bà Nguyễn Thị Thanh H3; Có vợ là Nguyễn Thị Đ3, sinh năm 1989 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 27/7/2023 đến ngày 30/7/2023, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức L, sinh năm 1975
Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Y, Bắc Giang (vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Anh Đỗ N1 Dũng1994
Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bản cáo trạng số 59/CT-VKS - YT ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo: Trương Thế Mừng, Hoàng Văn D, Hoàng Anh T2 và Trần Văn Đ1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 27/7/2023, tại xưởng gỗ bóc thuộc bản T, xã T, huyện Y của anh Nguyễn Đức L ở bản N, xã T, huyện Y, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y bắt quả tang vụ đánh bạc bằng hình thức đánh Sâm, được thua bằng tiền. Các đối tượng bị bắt gồm: Hoàng Văn D, Hoàng Anh T2, Trương Thế M và Trần Văn Đ1. Quá trình bắt quả tang, anh Đỗ Như D1, sinh năm 1994 ở bản N, xã T, huyện Y có mặt tại nơi các đối tượng đánh bạc và được mời chứng kiến việc lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: T3 tại chiếu bạc số tiền 5.230.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 01 bàn gỗ, 04 ghế gỗ; Thu giữ của Hoàng Văn D số tiền 5.355.000 đồng, 01 ví da màu xanh có chữ LEONARDO, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 30F-461.64; Thu giữ của Trương Thế M số tiền 2.870.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 89A-106.19; Thu giữ của Hoàng Anh T2 số tiền 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, biển kiểm soát 30G - 525.99; Thu giữ của Trần Văn Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 13 giờ ngày 27/7/2023, Hoàng Văn D một mình điều khiển xe ô tô Toyota Vios, biển kiểm soát 30F-461.64 đến xưởng gỗ bóc của anh Nguyễn Đức L thuộc bản Trại Lốt, xã T, huyện Y chơi, nhưng anh L không có ở xưởng gỗ nên D ngồi uống nước một mình ở xưởng nhà anh L. Khoảng 05 phút sau thì Trương Thế M điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 89A-106.19 đến và ngồi uống nước cùng D. Sau đó lần lượt có Hoàng Anh T2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, biển kiểm soát 30G - 525.99 và Trần Văn Đ1 đi bộ đến ngồi uống nước cùng các đối tượng. Khoảng 20 phút sau thì D, M, Đ1 và T2 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh S1 được thua bằng tiền. Lúc này, M lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân tại bàn bên cạnh bàn các đối tượng ngồi uống nước để sử dụng làm công cụ đánh bạc. Sau đó D chia bài rồi cùng M, Đ1 và T2 đánh bạc với nhau. Khi các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày thì anh Đỗ Như D1 đến ngồi xem và không tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì T2 nghỉ không tham gia đánh bạc nữa ngồi xem, còn D1, Đ1 và M vẫn tiếp tục đánh bạc đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng của vụ án như đã nêu trên.
Về hình thức đánh bạc như sau: Các bị cáo sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để đánh bạc bằng hình thức đánh S1 được thua bằng tiền. Quy ước trong ván bạc mỗi người chơi được chia 10 quân bài, đánh vòng tròn theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ, người thắng ván bạc trước sẽ được chia bài ván bạc sau và là người đánh bài đầu tiên. Người đánh bài đầu tiên có thể chọn đánh bài lẻ (từng quân bài một); đánh đôi một (hai quân bài cùng số khác chất, ví dụ: Q, Q); đánh ba quân bài (ba quân bài cùng số khác chất, ví dụ: J, J, J); đánh tứ quý (bốn quân bài cùng số khác chất, ví dụ: K, K, K, K); đánh S2 (các quân bài liên tiếp liền kề nhau có 3 quân bài trở lên ví dụ: 3, 4, 5 hoặc 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q...). Người chơi sau sẽ chọn quân bài lẻ, đôi, ba quân bài, tứ quý hoặc Sảnh tương ứng với số quân bài mà người trước đánh nhưng phải có số cao hơn để đánh chặn. Nếu người chơi ngồi kế tiếp phía bên phải của người đánh bài đầu tiên không có quân bài tương ứng lớn hơn để đánh chặn thì có thể bỏ qua lượt đánh đó để người ngồi kế tiếp phía bên phải đánh chặn. Người thắng cuộc là người đã đánh hết các quân bài của mình đầu tiên, mỗi quân bài còn lại của những người chơi khác mà chưa đánh được thì ứng với 10.000 đồng phải trả cho người thắng. Nếu không đánh được quân bài nào thì là cháy, phải đưa cho người thắng 150.000 đồng. Người được sâm là đã đánh hết quân bài nhưng không có ai chặn được, mỗi người chơi khác phải trả cho người được sâm số tiền 200.000 đồng. Ai báo sâm bị đánh chặn phải trả cho người đánh chặn số tiền 800.000 đồng. Ai đánh quân bài số 2 bị chặn bằng tứ quý sẽ thua số tiền 200.000 đồng cho người có tứ quý đánh chặn.
Các bị cáo khai nhận sử dụng số tiền đánh bạc như sau: Trương Thế M sử dụng 1.570.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua 970.000 đồng, số tiền còn lại bị thu giữ tại chiếu bạc; Hoàng Văn D sử dụng 1.500.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 500.000 đồng đã bị thu giữ tại chiếu bạc; Hoàng Anh T2 sử dụng 1.010.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt bị thua hết; Trần Văn Đ1 sử dụng 920.000 đồng đánh bạc, khi bị bắt thua 720.000 đồng, số tiền còn lại bị thu giữ tại chiếu bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 5.230.000 đồng.
Về việc xử lý vật chứng: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Rush, biển kiểm soát 30G-525.99 là của chị Hoàng Thị Q, sinh năm 1987 ở số A, ngõ A, phố Q, phường N, quận T, thành phố Hà Nội cho bị cáo Hoàng Anh T2 mượn để đi lại; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 30F-461.64 là của anh Vương Đức N2, sinh năm 1984 ở thôn H, xã T, huyện Y cho bị cáo Hoàng Văn D thuê; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu bạc, biển kiểm soát 89A-106.19 là tài sản chung của bị cáo Trương Thế M và vợ là chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1983 ở thôn T, xã T, huyện Y. Các bị cáo T2, D, M không sử dụng xe ô tô kể trên để đánh bạc. Chị Q, anh N2 và chị S không biết các bị cáo sử dụng xe ô tô đi đánh bạc. Ngày 14/8/2023 và ngày 19/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại 03 chiếc xe ô tô kể trên cho M, chị Q và anh N2. Bị cáo M, chị Q và anh N2 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Đối với số vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ (chưa được xử lý) chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế để bảo quản, chờ xử lý.
Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ nội dung, diễn biến hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố, các bị cáo đều nhận thấy rõ tội lỗi và ăn năn hối cải, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, các vấn đề về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt:
- + Bị cáo Trương Thế M từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Trương Thế M từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Hoàng Văn D từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Hoàng văn D2 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Hoàng Anh T2 từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Hoàng Anh T2 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Trần Văn Đ1 từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Trần Văn Đ1 từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 5.230.000đồng;
- - Trả lại cho anh Nguyễn Đức L 01 bàn gỗ và 04 chiếc ghế gỗ;
- - Trả lại cho các bị cáo tiền và các tài sản không sử dụng vào việc đánh bạc, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án án, cụ thể như sau:
- + Trả cho bị cáo M số tiền 2.870.000đ; 01 điện thoại di động nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 353415083959299/01, số IMEI 2: 353416083959297/01; 01 điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, số IMEI: 355350081133175 và số tiền 10.000.000₫ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023;
- + Trả cho bị cáo D2 số tiền 5.355.000đ; 01 ví da màu xanh bên ngoài có chữ LENARDO; 01 điện thoại di động NOKIA, số IMEI: 355763102898792; 01 điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, số IMEI 1: 353240109465265, số IMEI 2: 353240109489489 và số tiền 10.000.000đ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023;
- + Trả cho bị cáo T2 số tiền 2.000.000đ; 01 điện thoại di động nắp phía sau có chữ OPPO, số IMEI 1: 868057058450439, số IMEI 2: 868057058450421;
- + Trả cho bị cáo Đ1 01 điện thoại di động NOKIA, số IMEI: 358991097720815.
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo M, D2, T2, Đ1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Các bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh của các bị cáo: Lời khai nhận tội của tất cả các bị cáo trước phiên toà hôm nay là thành khẩn, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài sản... về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 15 giờ 45 phút ngày 27/7/2023, tại xưởng gỗ bóc thuộc bản T, xã T, huyện Y của anh Nguyễn Đức L, các bị cáo Trương Thế M, Hoàng Văn D, Hoàng Anh T2 và Trần Văn Đ1 đang có hành vi sử dụng bộ bài tú lơ khơ sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi Sâm thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y bắt quả tang và thu tại chiếu bạc số tiền 5.230.000 đồng.
Với số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc được thu giữ tại chiếu bạc nêu trên cùng với vật chứng thu được thì hành vi của các bị cáo Trương Thế M, Hoàng Văn D, Hoàng Anh T2 và Trần Văn Đ1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đảm bảo có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và vị trí, vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có nhiều bị cáo thực hiện tội phạm đánh bạc nên là vụ án đồng phạm nhưng mức độ giản đơn, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với mức độ đồng phạm của mình.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, đồng thời nó còn là nguyên nhân, điều kiện phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo là cần thiết, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo M và bị cáo D có vai trò tương đương nhau và cao hơn hai bị cáo còn lại. Bởi lẽ, bị cáo M và bị cáo D sử dụng số tiền để đánh bạc cao hơn (bị cáo M sử dụng 1.570.000đ; bị cáo D sử dụng 1.500.000đ), đồng thời, bị cáo M là người lấy bộ bài, bị cáo D là người chia bài đầu tiên. Các bị cáo phải chịu hình phạt tương ứng với vai trò đồng phạm, đặc điểm về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo và ăn năm hối cải nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên việc không cách ly các bị cáo này, không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân tốt.
Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) quy đinh tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, buộc mỗi bị cáo phải nộp một khoản tiền vào ngân sách Nhà nước.
[5]. Về vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2; điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cụ thể như sau:
Đối với số tiền 5.230.000đ thu tại chiếu bạc là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
Đối với công cụ sử dụng vào việc phạm tội là 52 quân bài tú lơ khơ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc bàn và 04 chiếc ghế là tài sản của gia đình anh Nguyễn Đức L, anh L không biết các bị cáo sử dụng tài sản của gia đình vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh L các tài sản này.
Đối với các tài sản các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, gồm có:
- + Trả cho bị cáo M số tiền 2.870.000đ và 02 chiếc điện thoại di động (thu khi bị bắt quả tang); số tiền 10.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023;
- + Trả cho bị cáo D số tiền 5.355.000đ; 01 ví da và 02 chiếc điện thoại di động(thu khi bị bắt quả tang); số tiền 10.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023;
- + Trả cho bị cáo T2 số tiền 2.000.000đ; 01 điện thoại di động
- + Trả cho bị cáo Đ1 01 điện thoại di động.
[6] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- + Bị cáo Trương Thế M 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Trương Thế M 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Hoàng Văn D 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Hoàng Văn D 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Hoàng Anh T2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Hoàng Anh T2 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- + Bị cáo Trần Văn Đ1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.
- Phạt bổ sung Trần Văn Đ1 10.000.000đ (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo được hưởng án treo, gồm có: Bị cáo Trương Thế M cho UBND xã T; bị cáo Hoàng Anh T2 cho UBND thị trấn P; Bị cáo Hoàng Văn D, bị cáo Trần Văn Đ1 cho UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 52 quân bài tú lơ khơ
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 5.230.000đồng;
- - Trả lại cho anh Nguyễn Đức L 01 bàn gỗ và 04 chiếc ghế gỗ;
- - Trả lại cho các bị cáo tiền và các tài sản, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, cụ thể như sau:
- + Trả cho bị cáo Trương Thế M số tiền 2.870.000đ; 01 điện thoại di động nắp phía sau có chữ SAMSUNG, số IMEI 1: 353415083959299/01, số IMEI 2: 353416083959297/01; 01 điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, số IMEI: 355350081133175; số tiền 10.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023;
- + Trả cho bị cáo Hoàng Văn D số tiền 5.355.000đ; 01 ví da màu xanh bên ngoài có chữ LENARDO; 01 điện thoại di động NOKIA, số IMEI: 355763102898792; 01 điện thoại di động kiểu dáng IPHONE, số IMEI 1: 353240109465265, số IMEI 2: 353240109489489; số tiền 10.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế ngày 15/9/2023
- + Trả cho bị cáo Hoàng Anh T2 số tiền 2.000.000đ; 01 điện thoại di động nắp phía sau có chữ OPPO, số IMEI 1: 868057058450439, số IMEI 2: 868057058450421;
- + Trả cho bị cáo Trần Văn Đ1 01 điện thoại di động NOKIA, số IMEI: 358991097720815.
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trương Thế M, Hoàng Văn D, Hoàng Anh T2 và Trần Văn Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- * Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Mạnh Hà |
Bản án số 63/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 63/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mừng đánh bạc
