Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày: 17 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.

2/ Bà Phan Thị Duệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST – HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Quang Văn N, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1998 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Văn T (đã chết) và bà Lương Thị L; có vợ là Lương Thị H (đã ly hôn), chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án Hình sự sơ thẩm số 18/HSST ngày 19/5/2020 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024 đến nay. (Có mặt)

2. Họ và tên: Lương Văn N1, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn N2 và bà Vang Thị H1; có vợ là Lê Thị N3 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 đến nay. (Có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo:Nguyễn Thị Quỳnh T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

- Người làm chứng: 1. Anh Vi Văn D, sinh năm: 1983. Trú tại: bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

2. Anh Vi Văn C, sinh năm: 1989. Trú tại: bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Lương Văn N1 là người nghiện chất ma túy, biết Quang Văn N thường có ma túy nên Năm thường lui tới lán của N để chơi, vào ngày 25/3/2024 Lương Văn N1 từ nhà đi vào chòi (lán) của Quang Văn N ở bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An, ngồi nói chuyện được một lúc thì N nhờ N1 đi mua ma túy hộ mình với mục đích để về bán kiếm lời và được N1 đồng ý vì bản thân Năm cũng là người sử dụng chất ma túy, N đưa cho Năm số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) sau khi nhận tiền Năm một mình đến khu vực rừng keo thuộc xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An tìm mua ma túy, tại đó Năm gặp được một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, sau khi trao đổi biết người đàn ông có ma túy bán nên N1 hỏi mua với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) và được người đàn ông đồng ý, sau khi nhận tiền người đàn ông nói với N1 đứng đợi một lúc, sau đó quay lại đưa cho N1 01 (một) gói được bọc bên ngoài bằng bao nilon màu vàng, mua được ma túy Năm cầm trên tay trái của mình đi về lán đưa cho N, sau khi nhận gói ma túy N mở ra kiểm tra thấy bên trong có chứa 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có nhiều viên nén màu hồng đồng dạng và 01 (một) gói nilon màu vàng bên trong có chứa chất rắn màu trắng, N đã cắt lấy một ít ma túy trong gói nilon màu vàng đưa cho N1 về sử dụng.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/3/2024 khi N đang ở trong lán của mình thì có Lương Văn N1 cùng Vi Văn DVi Văn C là những người ở cùng bản đến lán ngồi chơi, ngồi chơi được một lúc thì lực lượng Công an vào lán của N kiểm tra hành chính theo quy định, khi nhìn thấy lực lượng Công an do lo sợ nên Lương Văn N1 bỏ chạy trốn vào rừng, N tự nguyện lấy từ trong người ra giao nộp 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa nhiều viên nén màu hồng đồng dạng (nghi là ma túy) và 01 (một) gói nilon màu vàng bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy) cùng số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), Nguyên khai nhận toàn bộ số ma túy giao nộp có nguồn gốc nhờ Năm mua hộ ngày hôm trước với mục đích cất giấu để bán kiếm lời, số tiền giao nộp là tiền cá nhân của bị cáo do lao động mà có. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, cơ quan điều tra Công an thu giữ thêm 01 (một) khẩu súng có báng bằng gỗ, chiều dài súng là 156cm, chiều dài nòng súng là 122cm mà Nguyên khai nhận trước đó mua được từ một người không lai lịch, địa chỉ với mục đích sử dụng săn bắn thú rừng, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng đưa về trụ sở tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 26/3/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác nhận bên trong gói niêm phong có:

01 (một) túi nilon màu xanh, bên trong chứa nhiều viên nén đồng dạng màu hồng (nghi là ma túy); 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao nilon màu vàng (nghi là ma túy).

Gói các viên nén đồng dạng màu hồng có tổng khối lượng cả bì là 7,76g (Bảy phẩy bảy sáu gam), sau khi loại trừ bì còn lại 5,93g (Năm phẩy chín mươi ba gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích 0,62g (Không phẩy sáu mươi hai gam) đưa đi giám định tính chất ma túy (ký hiệu là M1).

Gói chất rắn màu trắng có tổng khối lượng cả bì là 4,97g (Bốn phẩy chín mươi bảy gam), sau khi loại trừ bì còn lại 4,45g (Bốn phẩy bốn mươi lăm gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích 0,41g (Không phẩy bốn mươi mốt gam) đưa đi giám định tính chất ma túy (Ký hiệu là M2).

Số vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định bao gồm: 5,31g (Năm phẩy ba mươi mốt gam) các viên nén đồng dạng màu hồng, 4,04g (Bốn phẩy không bốn gam) chất rắn màu trắng, túi nilon màu xanh, mảnh bao nilon màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.

Kết luận giám định số: 363/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 01/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu các viên nén đồng dạng màu hồng (ký hiệu M1) thu giữ của Quang Văn N vào ngày 26/3/2024 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

- Số viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ của Quang Văn N vào ngày 26/3/2024 có tổng khối lượng là 5,93g (năm phẩy chín mươi ba gam).

- Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Quang Văn N vào ngày 26/3/2024 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Quang Văn N vào ngày 26/3/2024 có khối lượng là 4,45g (bốn phẩy bốn mươi lăm gam).”

Kết luận giám định số: 09/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Khẩu súng thu giữ của Quang Văn N gửi đến giám định là súng kíp – thuộc loại súng săn. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được.”

Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-QC ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo Quang Văn NLương Văn N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm p khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Quang Văn N từ 08 năm 06 tháng đến 08 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng điểm p khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Văn N1 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.

Buộc các bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm 5,31g (năm phẩy ba mươi mốt gam) ma túy (Methamphetamine), 4,04g (bốn phẩy không bốn gam) ma túy (Heroine) cùng túi ni lông màu xanh, mảnh bao ni lông màu vàng vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu súng có báng bằng gỗ, chiều dài súng là 156cm, chiều dài nòng súng là 122cm. Được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Trả lại số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội cho bị cáo.

- Lời bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo: Người bào chữa không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố bản thân các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, gia đình thuộc diện khó khăn, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, bị cáo N1 giữ vai trò giúp sức, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo N1 sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo N1 đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quang Văn N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Lương Văn N1 08 năm tù cùng về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” là hợp tình, hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào lời bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, làm rõ những nội dung liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo, căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt những người làm chứng là đúng quy định.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại chòi (lán) của bị cáo Quang Văn Nbản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/3/2024 lực lượng Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, khi nhìn thấy lực lượng Công an bị cáo Lương Văn N1 bỏ trốn vào rừng, bị cáo Quang Văn N tự nguyện đưa từ trong người ra giao nộp 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa nhiều viên nén màu hồng đồng dạng được xác định là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 5,93g (năm phẩy chín mươi ba gam) và 01 (một) gói nilon màu vàng bên trong chứa chất rắn màu trắng được xác định là ma túy Heroine có khối lượng sau khi loại bỏ bao bì là 4,45g (bốn phẩy bốn mươi lăm gam), tổng khối lượng hai loại ma túy 10,38g (mười phẩy ba mươi tám gam) bị cáo thừa nhận cất giấu với mục đích để bán lại kiếm lời, tuy nhiên chưa kịp bán cho ai thì đã bị bắt. Sau khi bị bắt bị cáo khai nhận số ma túy giao nộp có nguồn gốc vào trước đó một ngày bị cáo nhờ bị cáo Lương Văn N1 đi mua hộ và trả công cho N1 bằng hình thức cho lại Năm một ít ma túy để sử dụng, ngoài thu giữ ma túy ra cơ quan diều tra còn tạm giữ từ bị cáo số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), bị cáo khai nhận số tiền thu từ bị cáo là tiền do bị cáo lao động sản xuất, làm thuê mà có. Quá trình khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ thêm 01 (một) khẩu súng được xác định là súng săn, bị cáo cất giấu với mục đích để săn bắn.

Hành vi của các bị cáo Quang Văn NLương Văn N1 đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo N từng bị xử lý hình sự về tội danh liên quan đến ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ vì mục đích nhằm có tiền tiêu xài một cách dễ dàng, nhanh chóng và không mất sức lao động, bị cáo N1 chỉ vì mục đích được trả công bằng ma túy để thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với vai trò, tính chất, mức độ của mỗi bị cáo, do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo được giáo dục, có thời gian cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ từ trước. Trong vụ án bị cáo N giữ vai trò chính vì đã khởi xướng, giao tiền nhờ bị cáo N1 mua ma túy về với mục đích bán lại kiếm lời, nên phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Bị cáo Lương Văn N1 biết việc bị cáo N nhờ mua ma túy với mục đích đưa về để bán lại kiếm lời nhưng vẫn đồng ý thực hiện chỉ để được bị cáo N trả công bằng hình thức cho lại một ít ma túy sử dụng, giữ vai trò là người giúp sức, tích cực thực hiện hành vi phạm tội cùng bị cáo N, do đó phải chịu trách nhiệm thứ hai trong vụ án.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Lương Văn N1 sau khi sự việc bị phát hiện đã ra đầu thú khai nhận sự việc phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, khó khăn, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Lương Văn N1 Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về lai lịch người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực rừng keo thuộc xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ 01 (một) khẩu súng được xác định là súng săn với mục đích sử dụng săn bắn thú rừng của bị cáo N, trước khi bị phát hiện bị cáo chưa từng bị xử lý về hành vi vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự về các hành vi, tội danh liên quan đến việc chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán hay chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ, do đó cơ quan điều tra Công an đã đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện R Quyết định xử phạt hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy Methamphetamine 5,31g (Năm phẩy ba mươi mốt gam) và H2 4,04g (Bốn phẩy không bốn gam) còn lại sau khi đã trích đưa đi giám định là chất thuộc danh mục Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành dưới mọi hình thức nên cần tịch thu tiêu hủy, những vật chứng khác gồm túi nilon màu xanh, mảnh bao nilon màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ vào Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ để giao cơ quan có chức năng, thẩm quyền xử lý tịch thu, tiêu hủy theo quy định đối với vật chứng là 01 (một) khẩu súng có báng bằng gỗ, chiều dài súng là 156cm, chiều dài nòng súng là 122cm, kết luận giám định xác định thuộc loại súng săn đang còn sử dụng được.

Đối với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) tạm giữ từ bị cáo, hiện đang được gửi bảo quản tại Kho bạc nhà nước Q, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa đã được làm rõ là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Quang Văn N, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần xem xét trả lại cho bị cáo, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án sau này.

[8] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Quang Văn N 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 26/3/2024.

    Căn cứ vào điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lương Văn N1 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 60, 61, 63 và 67 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

    - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín bên trong chứa: 5,31g (năm phẩy ba mươi mốt gam) các viên nén đồng dạng màu hồng (kết luận giám định là Methamphetamine) và 4,04g (Bốn phẩy không bốn gam) chất rắn màu trắng (kết luận giám định là Heroine), túi ni lông màu xanh, mảnh bao ni lông màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại...

    - Giao cơ quan Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An tịch thu, tiêu hủy theo quy định 01 (một) khẩu súng có báng bằng gỗ, chiều dài súng là 156cm, chiều dài nòng súng là 122cm, được xác định thuộc loại súng săn, đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

    (Hai khoản)

    (Vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 13/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).

    - Trả lại cho bị cáo Quang Văn N số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), tuy nhiên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho công tác thi hành án sau này. (Vật chứng được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước Q, theo biên bản giao nhận tài sản số 10/2024/BBBG-CQCSĐT ngày 08/4/2024 giữa Công an huyện QKho bạc Nhà nước Q, có bảng kê chi tiết tài sản giao nhận kèm theo.)

  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Quang Văn NLương Văn N1 chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do muốn có tiền tiêu xài N1 nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời, biết N là người nghiện ma túy nên N1 đã nhờ N đi mau hộ ma túy với số tiền 3.000.000đ và trả công cho N bằng cách cho một ít ma túy sử dụng và được N đồng ý, sau khi N mua ma túy về N1 chia một ít chi N sử dụng số ma túy gồm 02 loại được chia thành 02 gói cất giấu trong người, khi N1 chưa kịp bán ma túy cho người nào thì bị phát hiện bắt quả tang. Số lượng 02 gói ma túy thu được từ N1 là 5,93g Methamphetamine và 4,45g Heroine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger