Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 17-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tin, ông Đào Xuân Thịnh.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại phòng xét xử trực tuyến – Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang (kết nối với điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang), Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2024/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Chiến Thắng, sinh năm 1986 tại thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; tên gọi khác: Đỗ Văn Thắng; nơi cư trú: Số nhà 27A, ngõ 15, đường Hồ Công Dư, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Được và bà Đỗ Thị Nhung; vợ: Chưa kết hôn; có 1 con sinh năm 2019; tiền án:
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2009/HSST ngày 17/02/2009 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 3 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2009/HSST ngày 26/02/2009 của Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” . (ngày 28/9/2013 chấp hành xong án phạt tù của Bản án số 19 và Bản án số 44).
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2017).
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2019/HSST ngày 24/6/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2021).
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2022/HSST ngày 09/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành án phạt tù xong ngày 06/6/2023).

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2006/HSST ngày 26/01/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Bản án hình sự sơ thẩm số 175/2006/HSST ngày 27/11/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 17 ngày 26/01/2006 buộc Thắng chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 18 tháng tù.
    • - Ngày 22/6/2014 bị Công an phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

    Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam).

  2. Họ và tên: Trương Ngọc Tùng, sinh năm 1992 tại thành phố Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố Tiền Môn 1, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Số nhà 04, ngõ 102, đường Huyền Quang, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hồng Sơn và con bà Nguyễn Thị Thu; vợ, con: Chưa có; tiền án:
    • - Bản án số 46/2017/HSST ngày 18/4/2017, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/6/2018.
    • - Bản án số 29/2019/HSST ngày 24/6/2019, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2021.
    • - Bản án số 202/2021/HSST ngày 23/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2024.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • - Bản án hình sự phúc thẩm số 173/2010/HSPT ngày 07/11/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/3/2011.
    • - Bản án số 153/2012/HSST ngày 03/7/2012, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/01/2013.
    • - Bản án số 11/2014/HSST ngày 31/10/2014, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/7/2015.
    • - Ngày 05/10/2016 bị Công an thành phố Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam).

* Bị hại:

  • - Anh Nguyễn Mạnh Tưởng, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Phú Lâm, xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Anh Ban Văn Đức, sinh năm 2000 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đông Hà, xã Yên Định, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Lê Văn Bằng, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà 01 ngõ 389 đường Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bà Nguyễn Thị Bàn, sinh năm 1963 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Chiền, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
  • - Anh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số 274 đường Lưu Nhân Trú, phường Thọ Xương, TP Bắc Giang
  • - Chị Hoàng Thị An, sinh năm 1999 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ 4, khu Vĩnh Tuy 2, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Anh Đỗ Thế Linh, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Đỗ Chiến Thắng (Đỗ Văn Thắng) nảy sinh ý định đi tìm nhà dân nào sơ hở sẽ vào trộm cắp tài sản đem đi bán lấy tiền.

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/02/2024, Thắng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 30F9- 6331 mượn của anh Lê Văn Bằng, sinh năm 1989 ở số nhà 01, ngõ 389, đường Tiền Giang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang đi đến rủ bạn là Trương Ngọc Tùng, sinh năm 1992 ở số nhà 04, ngõ 102, đường Huyền Quang, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang cùng nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày Thắng điều khiển xe mô tô chở Tùng đi đến xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, khi đi qua khu vực dãy nhà trọ của bà Nguyễn Thị Bàn, sinh năm 1963 ở thôn Chiền, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thì Thắng thấy cổng khu nhà trọ không khoá nên dừng xe lại rồi đi đến mở cổng đi vào dãy nhà trọ, còn Tùng đỗ xe mô tô ở bên ngoài cảnh giới. Khi đi vào trong dãy nhà trọ Thắng quan sát thấy cửa phòng trọ thứ 04 của anh Nguyễn Mạnh Tưởng, sinh năm 1991 ở thôn Phú Lâm, xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên không khoá nên đi đến đẩy cửa đi vào trong phòng thì thấy anh Tưởng đang nằm ngủ trên giường, trên đầu giường gần cửa ra vào có 02 chiếc điện thoại di động, trên cửa sổ đầu giường có 01 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu gold lắp ốp màu tím; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung galaxy S8 màu ghi và 01 chiếc điên thoại di động nhãn hiệu Vsmart A3 màu đen, Thắng cầm 03 chiếc điện thoại của anh Tưởng đi ra ngoài đưa cho Tùng cầm rồi quay lại khu nhà trọ. Khi vào trong Thắng quan sát thấy cửa sổ phòng trọ đầu tiên của anh Ban Văn Đức, sinh năm 2000 ở thôn Đông Hà, xã Yên Định, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang được buộc dây bằng kim loại có thể cắt dây mở cửa sổ được nên Thắng đi ra ngoài mở cốp xe mô tô lấy 01 chiếc kìm bằng kim loại rồi đi vào dùng kìm cắt đứt dây buộc cửa sổ phòng trọ của anh Đức. Thắng mở cửa sổ ra thì thấy anh Đức đang ngủ trên giường, tại vị trí đầu giường gần cửa sổ có để 02 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 5 màu xanh nên thò tay vào lấy, lúc này anh Đức thấy có tiếng động tỉnh giấc nhìn thấy Thắng lấy điện thoại của mình nên hô hoán mọi người thì Thắng cầm 02 chiếc điện thoại lấy được của anh Đức chạy ra vị trí Tùng đứng rồi lên xe mô tô cùng Tùng bỏ chạy về thành phố Bắc Giang, khi bỏ chạy Thắng làm rơi chiếc kìm tại khu vực cổng khu nhà trọ của gia đình bà Nguyễn Thị Bàn. Sau khi về đến thành phố Bắc Giang, Thắng đem chiếc xe mô tô trả cho anh Bằng rồi chia cho Tùng 01 chiếc điện thoại Sam sung galaxy S8 màu ghi, 01 chiếc điên thoại Vsmart A3 màu đen và 1 chiếc điện thoại Xiaomi Note 5 màu xanh, còn Thắng giữ lại 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone XSMax màu gold. Đến khoảng 9 giờ ngày 21/02/2024, Tùng đem 03 chiếc điện thoại được Thắng đưa cho đi đến cửa hàng điện thoại di động “Ngọ Thao” ở số nhà 132, đường Hùng Vương, TP Bắc Giang bán cho 01 người không quen biết được 2.500.000 đồng, còn Thắng đem 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đến khu vực gầm cầu Xương Giang, thành phố Bắc Giang bán cho anh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1987 ở số 274 đường Lưu Nhân Trú, phường Thọ Xương, TP Bắc Giang làm nghề thu mua thiết bị điện tử cũ được 4.300.000 đồng, sau đó anh Hải đã bán lại 02 chiếc điện thoại này cho một cửa hàng điện thoại di động ở thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Toàn bộ số tiền này Thắng và Tùng đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi bị trộm cắp tài sản, ngày 28/02/2024 anh Ban Văn Đức và anh Nguyễn Mạnh Tưởng đã làm đơn trình báo và anh Đức giao nộp 01 chiếc kìm bằng kim loại do các đối tượng trộm cắp làm rơi cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng.

Ngày 02/3/2024, biết hành vi của mình bị phát hiện nên Đỗ Chiến Thắng đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đầu thú. Cùng ngày, cơ quan điều tra Công an huyện Yên Dũng đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Trương Ngọc Tùng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16 ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng trị giá 12.667.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 5 màu xanh trị giá 1.067.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu gold trị giá 7.233.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung galaxy S8, màu ghi trị giá 1.867.000 đồng; 01 chiếc điên thoại di động nhãn hiệu Vsmart A3, màu đen trị giá 1.500.000 đồng. Tổng giá trị 05 chiếc điện thoại là 24.334.000 đồng.

Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 67/CT-VKSYD ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố các bị cáo Đỗ Chiến Thắng, Trương Ngọc Tùng về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử đã công khai lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đỗ Chiến Thắng.
  • * Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Trương Ngọc Tùng.

Xử phạt Đỗ Chiến Thắng từ 03 năm 08 tháng tù đến 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2024.

Xử phạt Trương Ngọc Tùng từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự. Buộc Trương Ngọc Tùng bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh Tưởng số tiền 3.367.000 đồng và anh Ban Văn Đức số tiền 2.633.000 đồng.

Đối với bị cáo Đỗ Văn Chiến đã bồi thường, khắc phục hậu quả xong. Bị hại không yêu cầu bị cáo Chiến bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét.

* Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại, tay cầm bọc cao su màu đỏ - đen (đã qua sử dụng).

* Về án phí: Bị cáo Đỗ Chiến Thắng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Trương Ngọc Tùng phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phần tranh luận:

- Bị cáo Đỗ Chiến Thắng và Trương Ngọc Tùng đều có ý kiến là mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là nặng đối với các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, tranh luận: Các bị cáo bị truy tố theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Tổng trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp là 24.334.000 đồng, cao hơn nhiều lần so với mức khởi điểm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là 2.000.000 đồng; các bị cáo đều là những người có nhiều tiền án và nhân thân xấu về hành vi “Trộm cắp tài sản”, qua đó chứng tỏ các bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo nên lần đưa ra xét xử này cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo. Bị cáo Đỗ Chiến Thắng là người có vai trò chính trong vụ án, chủ động rủ rê, lôi kéo bị cáo Tùng tham gia trộm cắp, là người trực tiếp lấy trộm tài sản, chia đồ trộm cắp được cho Tùng; bị cáo Tùng là người giúp sức tích cực cho bị cáo Thắng trong vụ án. Vì vậy mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với 02 bị cáo này là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Quan điểm của Viện kiểm sát là vẫn giữ nguyên đề nghị như đã luận tội đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và đời sống xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/2/2024, tại phòng trọ thứ nhất và phòng trọ thứ tư trong khu nhà trọ của gia đình bà Nguyễn Thị Bàn, sinh năm 1963 ở thôn Chiền, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Chiến Thắng (tức Đỗ Văn Thắng) và Trương Ngọc Tùng có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu gold trị giá 7.233.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung galaxy S8, màu ghi trị giá 1.867.000 đồng; 01 điên thoại di động nhãn hiệu Vsmart A3, màu đen trị giá 1.500.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh Tưởng; trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng trị giá 12.667.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 5 màu xanh trị giá 1.067.000 đồng của anh Ban Văn Đức. Tổng giá trị 05 chiếc điện thoại di động Thắng và Tùng trộm cắp là 24.334.000 đồng. Thắng đã bán 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho anh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1987 ở số 274 đường Lưu Nhân Trú, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang được 4.300.000 đồng; Tùng đã bán 03 chiếc điện thoại còn lại cho người không quen biết được 2.500.000 đồng, toàn bộ số tiền này Thắng và Tùng đã chi tiêu cá nhân hết.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, bản ảnh hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng bị thu giữ cùng các tài liệu và chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu sài bằng con đường bất chính nên vẫn cố tình thực hiện. Do cả hai bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên hành vi phạm tội lần này của các bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 67/CT-VKSYD ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bức xúc trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Xét vai trò của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo Đỗ Chiến Thắng và Trương Ngọc Tùng phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm vì cùng cố ý thực hiện một tội phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự. Tuy vậy các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn vì không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm. Trong vụ án này Đỗ Chiến Thắng là người chủ động sử dụng xe mô tô (mượn của anh Lê Văn Bằng) đến rủ Trương Ngọc Tùng đi trộm cắp tài sản; Thắng là người trực tiếp đột nhập vào khu nhà trọ để trộm cắp điện thoại; là người chia phần cho Tùng sau khi trộm cắp xong. Do vậy bị cáo Thắng là người giữ vai trò chính trong vụ án, mức hình phạt cần xử cao hơn so với bị cáo Tùng, tuy vậy khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo.

[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nhưng do đây đã là tình tiết định tội nên các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đỗ Chiến Thắng ra đầu thú sau khi phạm tội và tác động để người thân bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại nên bị cáo Thắng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • * Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không biết lấy đó là những bài học cho bản thân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục thực hành phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo là người coi thường pháp luật, khó giáo dục cải tạo. Vì vậy cần xử lý nghiêm, buộc các bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo để trở thành người biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và cộng đồng như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy các bị cáo đều là người có nhiều tiền án, không nghề nghiệp, không có tài sản do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền với bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với bị cáo Đỗ Chiến Thắng: Chị Hoàng Thị An là người đang chung sống (chưa kết hôn) với bị cáo Đỗ Chiến Thắng đã bồi thường cho anh Ban Văn Đức và anh Nguyễn Mạnh Tưởng mỗi người 2.500.000 đồng. Anh Đức và anh Tưởng có lời khai không yêu cầu bị cáo Thắng phải bồi thường thêm khoản nào khác, do vậy về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Đỗ Chiến Thắng không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với bị cáo Trương Ngọc Tùng: Bị hại là anh Nguyễn Mạnh Tưởng yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá 02 chiếc điện thoại di động bị trộm cắp là 3.367.000 đồng; anh Bàn Văn Đức yêu cầu bị cáo Tùng bồi thường trị giá 01 chiếc điện thoại di động bị trộm cắp là 1.067.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, thiệt hại vật chất của bị hại là do hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo gây ra, nên việc bị hại yêu cầu bị cáo Tùng phải bồi thường là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự và và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tại phiên tòa bị cáo Tùng tự nguyện bồi thường cho anh Tưởng và anh Đức số tiền 6.000.000 đồng (trong đó bồi thường cho anh Tưởng là 3.367.000 đồng; bồi thường cho anh Đức là 2.633.000 đồng). Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị cáo Tùng, nguyện vọng này của bị cáo không trái quy định của pháp luật và có lợi cho phía bị hại, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bị cáo.

[8] Đối với các vấn đề khác.

Đối với anh Lê Văn Bằng có hành vi cho Đỗ Chiến Thắng mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30F9- 6331, nhưng anh Bằng không biết Thắng sử dụng chiếc xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với anh Bằng là có căn cứ.

Đối với anh Nguyễn Văn Hải có hành vi mua điện thoại của Đỗ Chiến Thắng, nhưng anh Hải không biết những chiếc điện thoại này là do Thắng phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm đối với anh Nguyễn Văn Hải là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với cửa hàng điện thoại di động ở thị xã Việt Yên đã mua điện thoại của anh Hải và người đàn ông đã mua điện thoại của Tùng. Quá trình điều tra không xác minh, làm rõ được đối với những người này nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu xanh, biển kiểm soát 30F9- 6331: Quá trình điều tra xác định ngày 24/02/2024 anh Lê Văn Bằng đã bán lại chiếc xe này cho anh Đỗ Thế Linh. Việc mua bán chiếc xe giữa anh Bằng và anh Linh là ngay tình, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Chiến Thắng. Ngày 10/5/2024 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Đỗ Thế Linh là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc kìm bằng kim loại, cán bọc cao su màu đen – đỏ, là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trương Ngọc Tùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Chiến Thắng (tên gọi khác: Đỗ Văn Thắng).

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trương Ngọc Tùng.

Căn cứ Điều 468; Điều 584; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 292; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    • - Xử phạt Đỗ Chiến Thắng (tên gọi khác: Đỗ Văn Thắng) 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2024.
    • - Xử phạt Trương Ngọc Tùng 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/3/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự:
  3. Buộc bị cáo Trương Ngọc Tùng phải bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh Tưởng số tiền 3.367.000 đồng (ba triệu ba trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng) và anh Bàn Văn Đức số tiền 2.633.000 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng:
  5. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại, tay cầm bọc cao su màu đỏ - đen (đã qua sử dụng).

  6. Về án phí:
  7. Bị cáo Đỗ Chiến Thắng (tên gọi khác: Đỗ Văn Thắng) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Trương Ngọc Tùng phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo:
  9. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Dũng;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - UBND phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/2/2024, tại phòng trọ thứ nhất và phòng trọ thứ tư trong khu nhà trọ của gia đình bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963 ở thôn C, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Đỗ Chiến T (tức Đỗ Văn T) và Trương Ngọc T1 có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu gold trị giá 7.233.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung galaxy S8, màu ghi trị giá 1.867.000 đồng; 01 điên thoại di động nhãn hiệu Vsmart A3, màu đen trị giá 1.500.000 đồng của anh Nguyễn Mạnh T; trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng trị giá 12.667.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Note 5 màu xanh trị giá 1.067.000 đồng của anh Ban Văn Đ. Tổng giá trị 05 chiếc điện thoại di động T và T1 trộm cắp là 24.334.000 đồng. T đã bán 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 ở số 274 đường L, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang được 4.300.000 đồng; T1 đã bán 03 chiếc điện thoại còn lại cho người không quen biết được 2.500.000 đồng, toàn bộ số tiền này T và T1 đã chi tiêu cá nhân hết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger