|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 16 - 08 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Tống Đức Như và ông Nguyễn Ngọc Khuê.
Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Trung A, sinh ngày 18/07/2000, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Lê Thị H; tiền án: ngày 21/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày 10/8/2022 chấp hành xong hình phạt tù); tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 19/03/2024 đến ngày 22/03/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.
- Bị hại: chị Đào Thị Mai A1, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Trịnh Thị H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Tống Văn T1, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết chị Đào Thị Mai A1 là anh em họ trong gia đình, trong quá trình nói chuyện thì chị Mai A1 có nói với Nguyễn Trung A về việc anh Trịnh Văn Đ là chồng hiện đang bị tạm giữ tại Công an huyện H về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và hỏi Trung A có cách nào để giúp anh Đ không bị xử lý hình sự, Trung A nói với chị Mai A1 liên hệ với người trực tiếp thụ lý. Trưa ngày 18/03/2024, Trung A nghe chị Mai A1 nói anh C đang trực tiếp thụ lý vụ án, rồi nhờ Trung A xin số điện thoại anh C. Sau khi Trung A xin số điện thoại của anh C thì đưa cho chị Mai A1 để trực tiếp liên lạc. Chiều cùng ngày, trong quá trình chơi intenet, do nợ tiền nên Trung A bắt đầu nảy sinh ý định lừa chị Mai A1 để lấy tiền trả nợ. Trung Anh biết chị Mai A1 đang cần chạy án cho anh Đ nên đã nghĩ ra cách tạo Zalo giả lấy tên anh C để lừa chị Mai A1. Ban đầu, Trung A có dùng Zalo tài khoản “Nguyễn Trung A” (là tài khoản thật của Trung A) gọi điện vào Zalo cho chị Mai A1 và nói để ý số điện thoại lạ gọi đến hoặc ai nhắn tin thì nghe máy để xử lý việc anh Đ. Sau đó, Trung A sử dụng sim số 0365073665 tạo tài khoản Zalo, tên tài khoản là “Cảnh” và nhắn tin cho chị Mai A1 nói “muốn lo cho vụ của Đ không”, chị Mai A1 trả lời “Dạ có”, Trung A yêu cầu chị Mai A1 chuyển số tiền 70.000.000₫ (bảy mươi triệu đồng) để lo nộp phạt, nếu nộp đủ số tiền thì gia đình ra đón người và Trung A cam kết với chị Mai A1 nếu người nhà gia đình không về được cứ vào cơ quan gặp anh C. Chị Mai A1 có xin giảm tiền nộp phạt xuống 65.000.000 đồng thì Trung A đồng ý. Biết chị Mai A1 đã tin nên Trung A dùng Zalo thật của Trung A nhắn tin đến tài khoản Zalo (Sống về đêm) của anh Vũ Văn T (là bạn của Trung A) để mượn số tài khoản ngân hàng của anh T. Do anh T không có tài khoản ngân hàng nên Trung A bảo Trọng mượn số tài khoản khác thì T đồng ý rồi nhắn tin cho Trung A số tài khoản 030078072871 của ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1), chủ tài khoản là Tống Văn T1. Sau khi nhận tài khoản do T gửi, Trung A chuyển cho chị Mai A1 và yêu cầu chị Mai A1 chuyển tiền vào số tài khoản trên. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trung A thấy chị Mai A1 chụp ảnh giao dịch chuyển tiền cho Trung A với số tiền 65.000.000 đồng từ số tài khoản 3506205031621 của Ngân hàng N, chủ tài khoản là Trịnh Thị H1. Sau khi nhận tiền xong, Trung A gọi điện bảo anh Trung chuyển lại số tiền 65.000.000 đồng đến số tài khoản 50110001993098 của Trung A. Một lúc sau, anh Trung chuyển số tiền 65.000.000 đồng cho Trung A. Nhận được tiền, Trung A tiếp tục nhắn tin cho chị Mai A1 hẹn đến 09 giờ sáng ngày hôm sau (là ngày 19/03/2024) đến Công an huyện để đón anh Đ về. Sau khi có số tiền trên, Trung A chuyển 2.000.000 đồng cho anh Tống Văn T1 để trả tiền công chuyển tiền dùm, sau đó mua 01 điện thoại di động IPHONE 15 Promax trị giá 32.460.000 đồng của chị Lê Thị M ở thành phố T, để trong tài khoản Ngân hàng là 20.222.203 đồng, số tiền còn lại Trung Anh tiêu xài cá nhân. Sau khi biết mình bị lừa, chị Mai A1 đã làm đơn tố cáo đến cơ quan Công an huyện H. Ngày 19/03/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trung A đồng thời áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản số 50110001993098 mở tại Ngân hàng Đ1 (B) của Nguyễn Trung A.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105, bên trong gắn sim số 0365073665, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A02S, bên trong gắn sim số 0559421786, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số 57/CT-VKS-HT ngày 01 tháng 07 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2, khoản 3 Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung A từ 26 đến 29 tháng tù. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia 105, bên trong gắn sim số 0365073665, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung A02S, bên trong gắn sim số 0559421786, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung A 01 Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax, đã qua sử dụng. Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 84/LPT-CSĐT ngày 19/03/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đối với tài khoản số 50110001993098 mở tại Ngân hàng TMCP Đ1 chi nhánh T2 của Nguyễn Trung A. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: với mục đích chiếm đoạt tài sản để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vào khoảng 21 giờ ngày 18/03/2024, tại thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Trung A đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo tài khoản Zalo giả, lấy tên là “Cảnh” - Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H để chiếm đoạt số tiền 65.000.000 đồng của chị Đào Thị Mai A1.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối của bị cáo làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản để chiếm đoạt là đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự, tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 65.000.000 đồng thuộc tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo Nguyễn Trung A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với anh Tống Văn T1 và anh Vũ Văn T, do bị cáo nói mượn tài khoản để chuyển tiền, anh T1 và anh T không biết số tiền 65.000.000 đồng do Trung A phạm tội mà có, mặt khác anh T1 và anh T không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của bị cáo; đối với chị Lê Thị M không biết số tiền mua điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh T1, anh T và chị M.
[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm ly hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Bị cáo là đối tượng có tiền án, tại bản án số 15/2022/HS-ST ngày 21/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo và đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng những tình tiết này để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, tuổi đời đang còn trẻ nhưng không chịu tu chí làm ăn. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo và chị Đào Thị Mai A1 đã thỏa thuận bồi thường số tiền 65.000.000 đồng, chị Mai A1 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét. Đối với số tiền 65.000.000 đồng là tiền của chị Trịnh Thị H1 do chị Đào Thị Mai A1 nhờ chuyển cho bị cáo, chị Mai A1 đã trả lại số tiền này cho chị H1, chị H1 không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[6]. Về vật chứng: đối với 02 điện thoại di động, 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 105, bên trong gắn sim số 0365073665 và 01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG A02S, bên trong gắn sim số 0559421786 đều là của bị cáo sử dụng làm phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax là tài sản bị cáo có được do sử dụng tiền phạm tội mà có để mua. Tuy nhiên, bị cáo đã tác động gia đình trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, nên chiếc điện thoại này thuộc sở hữu của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8]. Về biện pháp cưỡng chế: ngày 19/03/2024, cơ quan điều tra đã ban hành Lệnh phong tỏa tài khoản số 84/LPT-CSĐT đối với tài khoản số 50110001993098, mở tại Ngân hàng Đ1 chi nhanh Thanh Hóa của bị cáo Nguyễn Trung A. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả, trả lại số tiền 65.000.000 đồng đã chiếm đoạt cho chị Đào Thị Mai A1. Mặt khác, bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nên xét thấy việc phong tỏa tài khoản của bị cáo là không còn cần thiết nên hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản này là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2, khoản 3 Điều 106; điểm d khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trung A 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 19/03/2024.
- Án phí: buộc bị cáo Nguyễn Trung A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Xử lý vật chứng: tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105, bên trong gắn sim số 0365073665 và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu SAMSUNG A02S, bên trong gắn sim số 0559421786. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 Promax. Đặc điểm của vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/08/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 84/LPT-CSĐT ngày 19/03/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa đối với tài khoản số 50110001993098 mở tại Ngân hàng Đ1 chi nhánh T2 của bị cáo Nguyễn Trung A.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Văn Nam |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: với mục đích chiếm đoạt tài sản để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vào khoảng 21 giờ ngày 18/03/2024, tại thôn Ngọc Sơn, xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Trung Anh đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo tài khoản Zalo giả, lấy tên là “Cảnh” - Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hà Trung để chiếm đoạt số tiền 65.000.000 đồng của chị Đào Thị Mai Anh
