Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày: 16 – 7 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng

2. Ông Điểu Kim Rương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 31/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 26/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Điểu Phi L, sinh ngày 02/9/1992 tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Long L1; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xtiêng; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12;

Nơi cư trú: Tổ B, ấp E, xã A, huyện H, Bình Phước.

Cha: Điểu G, sinh năm 1960 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị Trúc H, sinh năm 1969; Bị cáo có 03 chị em, chị lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 2000 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Về nhân thân: Ngày 29/01/2016 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; bị cáo đã chấp hành xong bản án nên được xóa án tích theo quy định.

Ngày 25/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự, đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

2. Nguyễn Thanh L2, sinh ngày 10/12/1999 Tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Rửa xe; Trình độ học vấn: 9/12.

Nơi cư trú: Tổ 1, ấp 3, xã An Khương, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

Cha: Nguyễn Thanh T, sinh năm 1976, Mẹ: Nguyễn Thị Mỹ H1, sinh năm 1978; Bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2003.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không

Tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 04/01/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A ban hành Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 04/01/2022 đến 04/04/2022; bị cáo chấp hành xong quyết định. Về nhân thân: Ngày 27/8/2015 Công an huyện H xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản.

Ngày 25/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự, đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

3. Điểu Trường, sinh ngày 14/01/2001 Tại: tỉnh Bình Phước.

Tên gọi khác: V; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X tiêng; Tôn giáo: Tin lành; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12.

Nơi cư trú: Tổ 2, ấp 5, xã An Khương, huyện Hớn Quản, Bình Phước

Cha: Điểu C, sinh năm 1974, Mẹ: T, sinh năm 1978; Bị cáo có 06 anh chị em, anh lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2011

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 25/12/2023 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự, đến ngày 02/01/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Điểu P, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1, là bạn bè quen biết và đều có sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 25/12/2023, Điểu Phi L3 nhắn tin điện thoại rủ Nguyễn Thanh L2 cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng thì L2 đồng ý và hẹn nhau đến chiều cùng ngày sẽ đến nhà L3, thuộc tổ B, ấp E, xã A, huyện H để bàn bạc, góp tiền mua ma túy. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, trong lúc đi chơi L2 gặp Điểu T1 nên L2 rủ T1 cùng đi đến nhà L3 để bàn bạc góp tiền mua ma túy sử dụng thì T1 đồng ý. Tại đây L3, L2 và Trường B2 góp số tiền 100.000 đồng, L2 góp số tiền 200.000 đồng, còn T1 không có tiền nên không góp. Sau khi góp tiền thì L2 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 93C1.12847 chở T1 phía sau cùng đi mua ma túy. L2 và T1 đi đến khu vực nghĩa trang thuộc ấp S, xã T, thị xã B tìm gặp và mua một gói ma túy của một nam thanh niên tên B dừa (không rõ lai lịch) với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L2 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô chở T1 đi về, đi được khoảng 01 km L2 đưa gói ma túy cho T1 cầm rồi tiếp tục chở T1 về, khi về gần tới nhà Điểu Phi L3, T1 đưa lại gói ma tuý trên cho L2 cầm. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L2 và T1 về đến nhà Điểu Phi L3 rồi cùng L3 sử dụng gói ma túy vừa mua được tại phòng ngủ nhà L3. L3, L2 và T1 đang cùng sử dụng ma túy được khoảng 30 phút thì có Trần Thanh T2 đến chơi. Lúc này T1 mở cửa cho T2 vào cùng tham gia sử dụng ma tuý với cả nhóm; trong khi đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Điểu Phi L3, Nguyễn Thanh L2, Đ, Trần Thanh T2 đều cho kết quả dương tính (có sử dụng ma túy)

Tại cơ quan điều tra Điểu P, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận giám định số: 1294/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất màu nâu đen (ký hiệu M) bám dính bên trong 01 ống nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, mẫu ở dạng vết nên không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra xác định vai trò của từng bị cáo như sau:

Điểu Phi L3 là người khởi xướng việc sử dụng ma túy; là người góp số tiền 100.000 đồng để mua ma túy, đồng thời là người cung cấp dụng cụ, địa điểm sử dụng ma túy.

Nguyễn Thanh L2 là người góp số tiền 200.000 đồng đi mua ma túy, là người trực tiếp cùng Điểu T1 đi mua ma túy, thể hiện vai trò đồng phạm với Điểu Phi L3.

Điểu T1, là người cùng bàn bạc đi mua ma túy, là người trực tiếp đi mua ma túy cùng với L2, sau đó cùng sử dụng ma túy và bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang; là người đồng phạm với Điểu P và Nguyễn Thanh L2.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 bì thư niêm phong ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 1294M ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; bên trong có 01 nỏ thủy tinh trong bầu tròn: Đây là công cụ, phương tiện phạm tội; hiện không còn giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ chai nhựa không có nhãn hiệu có nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa hình L, màu vàng sọc trắng, dài 9,5cm và 2,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ dài 4,5cm; 01 quẹt gas màu xanh-đỏ nhãn hiệu Hoa V1, không có bộ phận đánh lửa; 01 quẹt gas màu vàng; 01 quẹt gas màu tím cùng nhãn hiệu Hoa Việt; 01 túi nylon trong suốt, hàn kín 03 mặt, có kích thước 1,5cm x 2,5cm; 01 túi nylon trong suốt, hàn kín 03 mặt, có kích thước 1,3cm x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng bạc dài 18cm, không có nhãn hiệu: Đây là những đồ vật các bị can sử dụng làm công cụ sử dụng ma túy, hiện không còn giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với xe môtô nhãn hiệu Sirius màu xanh bạc, biển số 93C1-128.47, số khung: RLCUE 3210HY024570, số máy E3X9E064775, Nguyễn Thanh L2 sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng: Đây là vật chứng của vụ án. Qua tra cứu xác định xe mô tô trên do Nguyễn Thanh L2 đứng tên chủ sở hữu. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân Hớn Quản tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1814 64GB màu xanh dương, đây là tài sản cá nhân của bị can Điểu P, là công cụ phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân Hớn Quản tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS 64GB, màu vàng G: Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên do Nguyễn Thanh L2 mượn của Nguyễn Thị Minh T3 (em gái của L2) để làm phương tiện liên lạc. Chị T3 không biết L2 dùng điện thoại trên làm phương tiện liên lạc để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 25/12/2023. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho chị T3 theo quy định.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 128GB, màu vàng Gold: Quá trình điều tra xác định điện thoại là tài sản hợp pháp của Trần Thanh T2, không phải là vật chứng của vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại trên cho Trần Thanh T2 theo quy định.

Về vấn đề dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.

Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Điểu Phi L3, Nguyễn Thanh L4 và Điểu T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 28/5/2024 truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Điểu Phi L3 mức án từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2 mức án từ 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng đến 05 (Năm) năm tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Điểu T1 mức án từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù.

Các bị cáo tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đề nghị Xử lý vật chứng vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng như nội dung bản cáo trạng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Các bị cáo không có kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng nên hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo Điểu Phi L3, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản quả tang, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa. Kết luận như sau:

Ngày 25/12/2023, tại tổ B, ấp E, xã A, huyện H các đối tượng Điểu P, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 đã thực hiện hành vi bàn bạc, thống nhất chuẩn bị địa điểm, dụng cụ và chất ma túy để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và lực lượng Công an bắt quả tang tại nhà của Điểu P.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, tạo điều kiện thuận lợi cho những đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Điểu Phi L3 là người chủ mưu, nhắn tin hẹn L5 đến nhà để cùng góp tiền đi mua ma túy sử dụng và là người chuẩn bị địa diểm, dụng cụ để cùng nhau sử dụng nên vài trò của L3 là chủ mưu, lôi kéo, rủ rê nên phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo L5 là người tiếp nhận tin nhắn của L3 rủ đến nhà L3 để bàn bạc mua ma túy để sử dụng tại nhà L3 và khi đi trên đường bị cáo L5 gặp T1 và cùng rủ nhau đi đến nhà L3 để bàn bạc mua ma túy sử dụng nên L5 và T1 là đồng phạm với vai trò giúp sức, thứ yếu nên phải chịu trách nhiệm hình sự ít nghiêm khắc hơn L3.

[4] Trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng định khung với 02 (hai) người trở lên. Bị cáo L3 đã từng bị xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nhưng đã được xóa án tích; bị cáo L2 nhân thân không tốt và vẫn còn 01 tiền sự nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét khi lượng hình.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, được địa phương xác nhận, các bị cáo tổ chức sử dụng lượng ma túy không lớn (giá trị thành tiền 300.000 đồng); Bị cáo L3 là lao động chính và là người trực tiếp nuôi con nhỏ; Bị cáo L3 và T1 là người đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật hạn chế; Bị cáo L2 và bị cáo T1 phạm tội lần đầu nên các bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên về tính chất, mức độ của hành vị phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cần thiết áp dụng mức hình phạt đầu khung của khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo L3. Đối với bị cáo L2 và bị cáo T1 cần áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là phù hợp; đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Điểu Phi L3, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với người thanh niên tên B dừa đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được nhân thân, lai lịch của B dừa nên không có cơ sở đề nghị xử lý.

Đối với Trần Thanh T2: Quá trình điều tra xác định Trần Thanh T2 được Điểu P, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 cho cùng sử dụng ma túy, T2 không tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng với các bị cáo trên nên Công an huyện H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thanh T2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.

[5] Xử lý vật chứng vụ án:

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật và tình tiết của vụ án nên chấp nhận. Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý vật chứng đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo: Điểu P (Long lùn), Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1 (V) phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

    - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Điểu Phi L3 (Long lùn) hình phạt 07 (B1) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 25/12/2023.

    - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L2 hình phạt 05 (Năm) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 25/12/2023.

    - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 54 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Điểu T1 (V) hình phạt 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 25/12/2023.

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về vật chứng vụ án:

    Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    - Tịch thu, tiêu hủy:

    01 bì thư niêm phong ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 1294M ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; bên trong có 01 nỏ thủy tinh trong bầu tròn: Đây là công cụ, phương tiện phạm tội; hiện không còn giá trị sử dụng; 01 vỏ chai nhựa không có nhãn hiệu có nắp nhựa màu trắng, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa hình L, màu vàng sọc trắng, dài 9,5cm và 2,5cm; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ dài 4,5cm; 01 quẹt gas màu xanh-đỏ nhãn hiệu Hoa V1, không có bộ phận đánh lửa; 01 quẹt gas màu vàng; 01 quẹt gas màu tím cùng nhãn hiệu Hoa Việt; 01 túi nylon trong suốt, hàn kín 03 mặt, có kích thước 1,5cm x 2,5cm; 01 túi nylon trong suốt, hàn kín 03 mặt, có kích thước 1,3cm x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng bạc dài 18cm, không có nhãn hiệu.

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe môtô nhãn hiệu Sirius màu xanh bạc, biển số 93C1-128.47, số khung: RLCUE 3210HY024570, số máy E3X9E064775, Nguyễn Thanh L2 sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy về sử dụng: Đây là vật chứng của vụ án; 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1814 64GB màu xanh dương, đây là tài sản cá nhân của bị can Điểu P, là công cụ phạm tội.

    (Vật chứng được mô tả và đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Quyết định chuyển vật chứng số 48/QĐ-VKS ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

    Các vật chứng khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý đứng quy định nên không đề cập đến.

  4. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

    Các bị cáo Điểu Phi L3, Nguyễn Thanh L2 và Điểu T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Bình Phước;

- VKSND tỉnh Bình phước;

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Công an huyện Hớn Quản;

- Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;

- Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ; Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger