Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 16-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa

Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

tham gia phiên tòa: Ông Lý Minh Tồn - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Giang Văn T, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1984 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Giang Văn T1 (đã chết) và bà Đặng Thị R; vợ Phạm Thu S; con có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 29-8-2023 bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 tháng 12 ngày tù về tội Chống người thi hành công vụ tại Bản án số: 42/2023/HS-ST; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/11/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Phương C - Luật sư trợ giúp pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (Có mặt).

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Phạm Thu S, sinh năm 1987. ĐKTT: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện nay: Nhà T, ấp N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (là vợ bị cáo; có mặt).

2

Bị hại: Anh Nhan Minh T2, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/8/2023 Giang Văn T, sinh ngày 12/6/1984 trú tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang đến nhà mẹ ruột bà Đặng Thị R, thuộc ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Tại đây, T cùng ông Nguyễn Văn V và một số người dân địa phương tổ chức uống rượu, bia. Trong lúc uống rượu, bia Thũy và V xảy ra mâu thuẫn, cự cãi dẫn đến xô xát thì được mọi người can ngăn, V lấy xe chạy về thì bị T cầm vỏ chai bia đánh trúng vùng đầu ngã xuống đất được mọi người đưa đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện A. Sau khi sự việc xảy ra, lực lượng Công an xã Đ tiến hành mời Giang Văn T về trụ sở để làm việc nhưng do T say nên Công an xã để nằm nghĩ tại phòng trực ban Công an xã. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, thấy Thũy thức dậy nên Công an xã (C1) đến hỏi, làm việc về vụ việc T đánh ông V trước đó nhưng T không hợp tác, cự cãi lớn tiếng nên C1 đến phòng ông Nhan Minh T2, Phó trưởng Công an xã Đ để báo cáo vụ việc. Lúc này, ông T2 mặc thường phục đi đến để giải thích, khi đến ông T2 nhìn thấy trong phòng có 01 đoạn kim loại dài khoảng 50cm ở cặp tường nên đến lấy và đưa cho C1 đem ra ngoài. Do T nhìn thấy C1 cầm cây kim loại nên T lấy võ kết bia bằng nhựa trong phòng đánh trúng vào vùng trán bên trái, vùng mày bên trái, ngón III và IV bàn tay trái của Nhan Minh T2 gây thương tích.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 708/KLTTCT-PY, ngày 18/9/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế tỉnh K kết luận:

“1. Các kết quả chính:

- Vết thương phần mềm vùng trán trái (vết 1, 2, 3), cung mày trái (vết 1, 2, 3), ngón III và IV tay trái.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nhan Minh T2 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Vật gây thương tích: Vật tày có góc; cạnh.

2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:

3

- Thương tích ở vùng trán trái (vết 1, 2, 3) và cung mày trái (vết 1, 2, 3) do vật tày có góc; cạnh tác động theo hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải so với trục giải phẩu của cơ thể.

- Thương tích ở ngón III và ngón IV tay trái do vật tày có góc; cạnh tác động theo hướng từ sau ra trước so với trục giải phẩu của cơ thể ”.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 730/KLTTCT-PY, ngày 22/9/2023 của Trung tâm P – Sở Y tế tỉnh K kết luận:

“1. Các kết quả chính:

Hiện tại vùng đầu và vùng ngực không có dấu vết thương tích.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn V tại thời điểm giám định là: 00% (Không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Vật gây thương tích:

Hiện tại vùng đầu và vùng ngực không có thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.

2.3. Về cơ chế hình thành thương tích:

Hiện tại vùng đầu và vùng ngực không có thương tích nên không có cơ sở kết luận cơ chế hình thành thương tích”.

* Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 09/2024/KL-GĐ và Công văn số 09.0/PYTT cùng ngày 19/01/2024 của Trung tâm P – Bộ Y, đối với bị can kết luận:

“- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại: Đương sự có bệnh lý về tâm thần; Rối loạn nhân cách thực tổn (F07.0 – ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm gây án và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.”

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A tiến hành thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) cây kim loại có chiều dài 80,5cm, đường kính 3,1cm đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ kết bia bằng nhựa màu đỏ, kích thước (0,33x0,4)m, chiều cao 0,25m đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ chai bia thủy tinh màu xanh, bị vở nhiều mãnh.

4

Phần dân sự: Bị hại Nhan Minh T2 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích và phục hồi sức khỏe là 10.000.000 đồng; tiền vệ sinh vết thương 1.000.000 đồng; tiền xe đi giám định 1.000.000 đồng và tiền phục hồi sức khỏe 8.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bị can đã tạm nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh nhằm khắc phục, bồi thường cho người bị hại Nhan M.

Riêng ông Nguyễn Văn V sau khi giám định không thương tích và được người nhà bị can bồi thường 1.000.000 đồng nên không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 50/CT-VKS-AM ngày 09-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Giang Văn Thũy về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Giang Văn T phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giang Văn T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận tại tòa; tịch thu tiêu hủy tang vật.

- Bị cáo trình bày: Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Về trách nhiệm dân sự đồng ý bồi thường theo số tiền gia đình đã nộp là 5.000.000 đồng. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viên kiểm sát. Xin xem xét các tình tiết: bị cáo đã bồi thường đầy đủ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bệnh hạn chế khả năng nhận thức để quyết định cho phù hợp.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Về dân sự đã nộp khắc phục được số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại,

- Bị hại trình bày: Thống nhất với số tiền bị cáo đã nộp bồi thường là 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xử lý theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát Viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 30/8/2023 Giang Văn T có hành vi dùng vỏ chai bia đánh ông Nguyễn Văn V nên Công an xã Đ mời Thũy về trụ sở Công an xã Đ để làm việc. Khoảng 17 giờ cùng ngày tại phòng trực ban Công an xã Đ, T nhìn thấy anh T2 lấy cây kim loại đưa cho anh C1 là cán bộ Công an xã đem ra ngoài nên T lấy vỏ kết bia bằng nhựa đánh trúng vào vùng trán trái, cung mày trái, ngón III và IV tay trái của anh Nhan Minh T2, hậu quả làm cho anh T2 bị thương. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 708/KLTTCT-PY ngày 18/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nhan Minh T2 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%.

[3] Về tội danh: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Giang Văn T phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ:

[3.1] Về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 09/2024/KLGĐ ngày 19/01/2024 của Trung tâm P kết luận tại thời điểm gây án và hiện tại bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại Công văn số: 09.0/PYTT ngày 19/01/2024 của Trung tâm P xác định tại thời điểm gây án và hiện tại bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, tuy bị cáo có bệnh hạn chế khả năng nhận thức nhưng vẫn có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình đã gây ra.

[3.2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội; bị cáo có khả năng nhận thức được việc dùng vỏ kết bia bằng nhựa đánh trúng vào người khác sẽ gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi bị cáo dùng vỏ kết bia bằng nhựa đánh vào người của anh T2 đã làm anh T2 tổn thương cơ thể. Giữa bị cáo và anh T2 không có mâu thuẫn gì, chỉ vì nhìn thấy anh T2 lấy cây kim loại đưa cho anh C1 là cán bộ Công an xã đem ra ngoài mà bị cáo đã dùng vỏ kết bia gây thương tích

6

cho anh T2, do đó xác định hành vi của bị cáo đã thực hiện có tính chất côn đồ; mặt khác công cụ bị cáo gây thương tích cho anh T2 là vỏ kết bia bằng nhựa được xác định là hung khí nguy hiểm. Đây là các tình tiết định tội theo quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về định khung hình phạt: Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 13% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều này. Do đó, hành vi của bị cáo Giang Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Ngày 29-8-2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 07 tháng 12 ngày tù về tội Chống người thi hành công vụ tại Bản án số: 42/2023/HS-ST, chưa được xóa án tích thì đến ngày 30/8/2023 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Mặt khác nơi bị cáo gây án là tại trụ sở Công an xã nên gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức tôn trọng pháp luật.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị cáo với bị hại đã thống nhất mức bồi thường, người nhà bị cáo đã bồi thường đầy đủ. Do đó, HĐXX xác định bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 06 năm tù; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội cũng do khả năng nhận

7

thức hạn chế nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh T2 xác định chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng mà gia đình bị cáo đã nộp tại cơ quan thi hành án, không yêu cầu gì thêm. HĐXX ghi nhận và buộc bị cáo bồi thường cho anh Thừa số tiền 5.000.000 đồng; bị cáo đã nộp tại Thi hành án và anh T2 được nhận số tiền này tại cơ quan thi hành án khi án có hiệu lực pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng và thanh kim loại đã qua sử dụng, không xác định được chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Giang Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giang Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 16/11/2023).

2- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận. Theo đó bị cáo T có trách nhiệm bồi thường cho anh Thừa số tiền 5.000.000 đồng.

Anh Nhan Minh T2 được nhận số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh (do gia đình bị cáo đã tạm nộp tại biên lai thu số 0003925 ngày 12-12-2023).

3- Về biện pháp tư pháp: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây kim loại có chiều dài 80,5cm, đường kính 3,1cm đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ kết bia bằng nhựa màu đỏ, kích thước (0,33x0,4)m, chiều cao 0,25m đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ chai bia thủy tinh màu xanh, bị vở nhiều mãnh (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKS-AM ngày 09-5-2024 của VKSND huyện An Minh).

4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ

8

Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Bị cáo Giang Văn T chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5- Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16-7-2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Tòa án tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - UBND xã Hòa Lợi, GR, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giang Văn T Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger