Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

Bản án số: 63/2024/DS – ST

Ngày: 16 - 5 - 2024

V/v tranh chấp Hợp đồng góp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Vững;

Ông Trần Minh Lý;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLST- DS, ngày 23 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST - DS, ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1985; Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1973; Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Võ Thị Q, sinh năm 1967; Cư trú tại: Số 23, đường Nguyễn Trung Trực, khu phố Bình Hòa, thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

(Văn bản ủy quyền số 452 ngày 19/3/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1968; Cư trú tại: Ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Q, sinh năm 1967; Cư trú tại: Số 23, đường Nguyễn Trung Trực, khu phố Bình Hòa, thị trấn Tân Trụ, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

(Văn bản ủy quyền số 451 ngày 19/3/2024).

(Ông S có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S trình bày: Tháng 01/2022, ông tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Kim L làm chủ hụi, cụ thể dây hụi, phần hụi thì ông không nhớ, chỉ nhớ tổng số tiền hụi gốc đã đóng cho bà L là 16.400.000 đồng. Tháng 05/2023, bà L bị bể hụi và không trả lại tiền hụi cho ông. Ông Trần Hữu Đ là chồng của bà Nguyễn Thị Kim L hoàn toàn biết việc làm chủ hụi của bà L. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Hữu Đ liên đới trả cho ông số tiền nợ hụi gốc là 16.400.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L và người đại diện theo ủy quyền bà Võ Thị Q trình bày: Ông S có tham gia hụi do bà L làm chủ và đã đóng số tiền như ông S trình bày là đúng. Bà L đồng ý trả cho ông S số tiền 16.400.000 đồng. Tuy nhiên, bà L đang gặp khó khăn về kinh tế nên xin trả dần mỗi tháng 300.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Nợ hụi của ông S là nợ riêng của bà L nên bà L và ông Đ thống nhất là để bà L tự trả nợ, ông Đ không cùng liên đới trả nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu Đ trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Kim L là vợ chồng, việc bà L làm chủ hụi, ông biết và đồng ý. Khi bà L mở rộng quy mô hụi, ông có khuyên bà L dừng lại nhưng bà L không đồng ý nên ông chấp nhận để bà L tiếp tục làm chủ hụi. Số tiền hụi mà bà L thu được chủ yếu lo cho sinh hoạt gia đình nhưng cũng không nhiều. Ông biết ông S có tham gia chơi hụi của bà L. Khoảng năm 2023, bà L bị bể hụi, không trả tiền hụi lại được cho ông S nên ông S khởi kiện. Lúc đầu, ông đồng ý liên đới cùng bà L trả nợ hụi cho ông S. Sau đó, ông và bà L bàn bạc lại, thống nhất đây là nợ riêng của bà L nên bà L tự trả, ông không có trách nhiệm cùng trả nợ với bà L.

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Hữu Đ là bà Võ Thị Q trình bày: Ông Đ không liên đới cùng bà L trả nợ vì việc bà L mở hụi, ông Đ không biết và bà L sử dụng tiền góp hụi của ông S vào mục đích cá nhân.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh S, buộc bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Hữu Đ liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh S số nợ hụi gốc là 16.400.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ hụi, bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bà Võ Thị Q.

[1.3] Pháp luật áp dụng: Hợp đồng góp hụi giao kết năm 2022. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Ông S yêu cầu vợ chồng bà L và ông Đ liên đới trả lại cho ông số nợ hụi gốc là 16.400.000 đồng. Bà L đồng ý trả số tiền trên cho ông S nên ghi nhận ý kiến của bà L. Tuy nhiên, bà L, ông Đ và bà Q thống nhất đây là nợ riêng của bà L nên bà L tự trả, ông Đ không liên đới với bà L để trả. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xem xét về yêu cầu liên đới của ông S.

[2.2] Tại biên bản hòa giải ngày 26/3/2024, bà Q trình bày ông Đ không biết việc bà L mở hụi. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 20/02/2024 và ngày 01/4/2024, ông Đ khẳng định ông biết và đồng ý cho bà L làm chủ hụi, ông cũng biết ông S có tham gia hụi do bà L làm chủ.

Từ đó xác định, ông Đ tuy không trực tiếp thỏa thuận, xác lập hợp đồng góp hụi với ông S nhưng ông biết và đồng ý để bà L xác lập, thực hiện hợp đồng góp hụi với ông S. Do đó, ông Đ và bà L phải có nghĩa vụ chung, phát sinh từ các giao dịch góp hụi do bà L và ông S xác lập, với sự đồng ý của ông Đ, theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Lời trình bày của bà Q cho rằng ông Đ không biết việc bà L làm hụi là mâu thuẫn với lời trình bày của ông Đ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Hơn nữa, tại biên bản lấy lời khai ngày 20/02/2024, ông Đ đã đồng ý cùng L liên đới trả nợ hụi cho ông S. Về sau, bà Q và ông Đ mới thay đổi ý kiến, không đồng ý cùng bà L liên đới trả nợ cho ông S.

[2.4] Ngoài ra, thấy rằng, bà L làm chủ hụi trong thời kỳ hôn nhân với ông Đ, căn cứ theo Khoản 1, 2 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thu nhập mà bà L có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng bà L và ông Đ. Vậy nên, số tiền hụi mà bà L thu được mặc nhiên đã được đưa vào khối tài sản chung của vợ chồng, làm phát triển khối tài sản chung của vợ chồng. Do đó, khối tài sản chung của vợ chồng phải có nghĩa vụ bảo đảm cho các hoạt động giúp bà L có được thu nhập, cụ thể trong vụ án này là hoạt động góp hụi của ông S.

[2.5] Mặt khác, ông Đ cũng thừa nhận tại biên bản lấy lời khai ngày 01/4/2024 là bà L sử dụng thu nhập từ việc làm hụi để lo chi phí sinh hoạt gia đình. Như vậy, bà L đã sử dụng số tiền này để góp phần đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu của gia đình bà L và ông Đ, làm giảm gánh nặng kinh tế cho ông Đ và mặc nhiên ông Đ là thành viên trong gia đình cũng đã được hưởng lợi từ các nhu cầu thiết yếu được cung ứng bằng nguồn thu nhập từ việc làm hụi của bà L. Đồng thời, nhu cầu sinh hoạt gia đình là nhu cầu chung của gia đình, không phải là nhu cầu riêng của bà L. Vì vậy mà, ông Đ và bà L phải có nghĩa vụ chung trong việc trả lại số tiền hụi mà bà L đã nhận từ ông S, theo quy định tại Khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.6] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; việc ông Đ và bà L cho rằng đây là nợ riêng của bà L nên bà L tự trả, ông Đ không liên đới trả là không đúng. Buộc ông Đ và bà L phải liên đới trả số tiền nợ hụi gốc cho ông S là 16.400.000 đồng.

[3] Về phương thức trả: Bà Q đại diện cho bà L yêu cầu được trả dần, mỗi tháng 300.000 đồng cho đến khi trả hết nợ. Ông S không đồng ý. Xét, hợp đồng góp hụi chấm dứt là do lỗi hoàn toàn của bà L. Lẽ ra, tại thời điểm chấm dứt hợp đồng góp hụi, bà L phải trả lại ngay toàn bộ số tiền hụi đã nhận cho ông S, theo quy định tại Khoản 3 Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, các bên cũng không có thỏa thuận về trả dần. Do đó, nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện toàn bộ và kịp thời theo quy định tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, phía bà L yêu cầu được trả dần là không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Hữu Đ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, 288, 357, 422, 428, 471, 468 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, 37, 45 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh S.

Buộc bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Hữu Đ liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh S số tiền nợ hụi gốc là 16.400.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L và ông Trần Hữu Đ phải liên đới chịu 820.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Nguyễn Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 450.000 theo Biên lai thu số 0011012 ngày 22/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  2. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.
  3. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- TAND tỉnh Long An;

- VKSND huyện Cần Giuộc;

- Chi cục THA huyện Cần Giuộc;

- Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tô Cẩm Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS – ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 63/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh S tranh chấp "Hợp đồng góp hụi" Nguyễn Thị Kim L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger