|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15 – 8 – 2024
Về việc Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Trung Nghĩa.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Sơn Thị V, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: ấp N, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- * Bị đơn: Anh Thạch Sa R, sinh năm 1986.
- Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2024 cũng như tại đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn Sơn Thị V trình bày:
Chị Sơn Thị V và anh Thạch Sa R kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/8/2020. Trong thời gian kết hôn, vợ chồng có 02 con chung là cháu Thạch Thị Hành Tr (nữ) sinh ngày 12/3/2012 và Thạch Phước D (nam) sinh ngày 21/12/2017. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, hiện nay tình cảm không còn.
Nay chị V yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị Sơn Thị V yêu cầu được ly hôn với anh Thạch Sa R.
- Về con chung: Chị Sơn Thị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Thạch Thị Hành Tr (nữ) sinh ngày 12/3/2012 và Thạch Phước D (nam) sinh ngày 21/12/2017 cho đến khi cháu Tr và cháu D thành niên, lao động được; chị V không yêu cầu anh Thạch Sa R cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ do chị V giao nộp là bản sao Giấy chứng nhận kết hôn của chị Sơn Thị V và anh Thạch Sa R ; bản sao căn cước công dân; bản sao Giấy khai sinh của cháu Thạch Thị Hành Tr và Thạch Phước D .
Đối với bị đơn Thạch Sa R : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị V nhưng anh R không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh R cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho anh Rây và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 01/8/2024, bị đơn R vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Sơn Thị V khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Thạch Sa R . Yêu cầu của chị V được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Thạch Sa R đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại đơn xin vắng mặt, nguyên đơn có trình bày rõ các yêu cầu của mình và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn cũng như việc không phản đối của anh R ; đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị V về việc kết hôn với R và đã được Ủy ban nhân dân xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/8/2020 là sự thật. Vì vậy, giữa chị V và anh R đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không biết được tình trạng cuộc sống của nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Như vậy, chị V và anh R đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị V được ly hôn với anh R .
Đối với quyền nuôi con chung: Tại thời điểm xét xử vụ án 02 (hai) cháu Thạch Thị Hành Tr (nữ) sinh ngày 12/3/2012 và Thạch Phước D (nam) sinh ngày 21/12/2017 hiện đang sống với mẹ, như vậy chị V đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Về phía anh R , suốt thời gian chị V nuôi con, anh R đã không có sự quan tâm, nuôi dưỡng, chăm lo ở mức cần thiết đối với con chung; anh R đã vi phạm nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như quy định của điều luật đã viện dẫn ở trên. Mặc khác, cháu Thạch Thị Hành Tr có nguyện vọng muốn sống với mẹ và chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị Vol được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) Thạch Thị Hành Tr (nữ) sinh ngày 12/3/2012 và Thạch Phước D (nam) sinh ngày 21/12/2017 cho đến khi 02 (hai) cháu thành niên. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của chị V về việc không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn khẳng định tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị V phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Sơn Thị V được ly hôn với anh Thạch Sa R.
- Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Sơn Thị V được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Thạch Thị Hành Tr (nữ) sinh ngày 12/3/2012 và Thạch Phước Di (nam) sinh ngày 21/12/2017 cho đến khi 02 (hai) cháu Tr và cháu D thành niên. Ghi nhận ý kiến tự nguyện của chị V về việc không yêu cầu anh R cấp dưỡng nuôi con.
Trong thời gian chị Sơn Thị V nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.
Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Tr và cháu D, chị V có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; anh R có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Sơn Thị V phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004846 ngày 07/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Sơn Thị V và anh Thạch Sa R có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
