|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HSST Ngày: 15/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lâm
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đức Giang và ông Nguyễn Văn Hậu
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện VKS nhân dân huyện D tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị H – Kiểm sát viên .
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đức T. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Trần Văn T1; Sinh ngày: 27/9/1984; Tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Trần Đức T2, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Vũ Thị K, sinh năm 1961; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 62/2023/HSST ngày 17/5/2023. Chấp hành xong ngày 14/01/2024.
Nhân thân: - Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự tại Bản án số 14/2005/HSST ngày 26/4/2005. Chấp hành xong ngày 26/4/2006.
- Năm 2022, bị Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 11/QĐ-XPVPHC ngày 10/01/2022. Nộp phạt ngày 15/4/2022.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/3/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Chu Hồng Đ, sinh năm 1996
Nơi cư trú: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 06/3/2024, Trần Đức T đi bộ từ nhà xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đến khu vực cánh đồng C, thuộc xóm B, xã D, huyện D, Nghệ An để thu lưới bắt cá. Khi đi qua nhà anh Chu Hồng Đ, sinh năm 1996, trú tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, phát hiện cửa phía sau nhà Đ đang mở, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, T dựng xe đạp và để dép ở mép phía ngoài bờ tường nhà anh Đ rồi trèo qua bờ tường để vào bên trong nhà. T đi vào phòng ngủ ở tầng một phát hiện 01 (Một) điện thoại di động Iphone 11, màu xanh đang sạc trên tủ nhựa, T lấy điện thoại bỏ vào túi quần thì bị anh Chu Hồng Đ phát hiện, hô hoán. T bỏ chạy theo đường cũ, trèo tường ra rồi lấy xe đạp bỏ chạy về nhà. Sau khi trộm cắp được điện thoại, T đem về nhà cất giấu.
Ngày 07/3/2024, anh Chu Hồng Đ làm đơn trình báo Công an xã D.
Nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 08/3/2024 Trần Đức T đến Công an xã D, huyện D đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 11, màu xanh, có số seri KZ1ZR4NYN73J; máy bị nứt nhẹ mặt kính phía sau tại khu vực phía dưới camera (máy đã qua sử dụng, mua lại tháng 6/2023) trị giá 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng);
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- + 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 11, màu xanh, có số seri KZ1ZR4NYN73J, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu anh Chu Hồng Đ theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSDC ngày 15/4/2024 đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
- Căn cứ khoản 1, Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Trần Đức T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Chu Hồng Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Số vật chứng trên là tài sản của anh Chu Hồng Đ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét.
Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, như vậy đã đủ căn cứ kết luận:
Vào ngày 06/3/2024, tại khu vực xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Trần Đức T có hành vi lén lý chiếm đoạt 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh của anh Chu Hồng Đ có trị giá là 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Hành vi của Trần Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản. Tội phạm và khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo Trần Đức T có tính chất ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo Trần Đức T là người có đầy đủ năng lực hành vi, phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có 01 tiền án năm 2023, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại Bản án số 62/2023/HSST ngày 17/5/2023. Chấp hành xong ngày 14/01/2024
Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu, năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 14/2005/HSST ngày 26/4/2005. Chấp hành xong ngày 26/4/2006.
- Năm 2022, bị Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định số 11/QĐ-XPVPHC ngày 10/01/2022. Nộp phạt ngày 15/4/2022.
Chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo và nhất thiết phải cách ly ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS.
Bị cáo Trần Đức T có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú, thành khẩn khai báo, và đã tự nguyện giao nộp tài sản, gia đình bị cáo có cha đẻ có công với cách mạng được tặng Huy chương. Do đó cần áp dụng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo Trần Đức T.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ và lời khai tại phiên tòa, xét thấy bị cáo Trần Đức T không có việc làm ổn định, không có tài sản gì, nên xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Chu Hồng Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[7] Về xử lý vật chứng; Số vật chứng trên là tài sản của anh Chu Hồng Đ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra nên miễn xét.
[8]. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đức T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt:
Bị cáo Trần Đức T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 08/3/2024.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Đức T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Lâm |
Bản án số 63/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
