Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng

Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hoàng

Ông Nguyễn Quốc Khánh

Ông Lê Quốc Ngưu

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc V, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1992 tại tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: 224 P, tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc V1 và bà Bùi Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 09/3/2023 và bị tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh G. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đào Văn T – Văn phòng Luật sư Mai Nguyễn thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt

* Các bị hại:

Anh Lưu Đức V2, sinh năm 1987; địa chỉ: A V, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

Chị Lê Thị Huyền T1, sinh năm 1984; địa chỉ: A Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm 1993; địa chỉ: C H, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Anh Lê Tiến C1, sinh năm 1991 và chị Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: 14/1/13 N, tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đều vắng mặt.

1

Ông Trần Minh S, sinh năm 1969; địa chỉ: 0 Q, tổ E, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Ông Nguyễn Quốc V1, sinh năm 1963; địa chỉ: B P, tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị V3, sinh năm 1959; địa chỉ: B P, tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Anh Thái Văn T3, sinh năm 1986; địa chỉ: 7 L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Ông Lê Cao B, sinh năm 1960; địa chỉ: B L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Văng mặt.

Ông Đặng An B1, sinh năm 1963; địa chỉ: B L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/9/2019, Nguyễn Quốc V nhận chuyển nhượng thửa đất số 232 (Tờ bản đồ số 70; địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; diện tích 375m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất – viết tắt là GCNQSDĐ, số CQ 774578) của bà Nguyễn Thị V3 (sinh năm: 1959; trú tại: B P, tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Ngày 15/10/2019, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P chỉnh lý GCNQSDĐ số CQ 774578 mang tên Nguyễn Quốc V chủ sở hữu. Đến ngày 22/10/2019, Nguyễn Quốc V đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trần Minh S (sinh năm: 1969; trú tại: 0 Q, tổ E, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai) với số tiền 3.800.000.000 đồng. Ngày 25/10/2019, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P đã chỉnh lý GCNQSDĐ số CQ 774578 mang tên Trần Minh S chủ sở hữu.

Sau khi chuyển nhượng và giao GCNQSDĐ số CQ 774578 cho ông S, V còn lưu giữ bản photo của GCNQSDĐ nói trên nên V nảy sinh ý định đặt làm giả GCNQSDĐ số CQ 774578. Từ ngày 11/7/2022 đến ngày 06/8/2022, V sử dụng điện thoại di động cá nhân truy cập vào mạng xã hội Facebook, liên hệ với đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt làm giả 03 GCNQSDĐ số CQ 774578 (02 GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị V3 và 01 GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Quốc V) với số tiền 15.000.000 đồng, V chụp hình ảnh GCNQSDĐ số CQ 774578 từ bản photo rồi gửi cho đối tượng nhận làm giả và yêu cầu khi có GCNQSDĐ số CQ 774578 giả thì giao đến địa chỉ số nhà B P, tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Từ ngày 11/7/2022 đến ngày 02/8/2022, Nguyễn Quốc V đã nhiều lần chuyển tổng cộng số tiền 11.600.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V4 số [...] tên Trần Văn L để trả tiền làm giả các GCNQSDĐ số CQ 774578. Đến ngày 06/8/2022, V được một người đàn ông khoảng 30 tuổi, đeo khẩu trang (không rõ nhân thân, lai lịch) đến giao GCNQSDĐ giả số CQ 774578 thì V đưa 3.400.000 đồng tiền mặt để thanh toán số tiền còn lại.

2

Sau khi có GCNQSDĐ giả, từ ngày 20/7/2022 đến ngày 08/8/2022, Nguyễn Quốc V đã sử dụng 03 GCNQSDĐ giả để đặt vấn đề thế chấp vay tiền của các cá nhân rồi chiếm đoạt tổng cộng số tiền 1.450.000.000 đồng, cụ thể như sau:

* Sử dụng GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Quốc V để Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 750.000.000 đồng của bà Lê Thị Huyền T1:

Thông qua mối quan hệ quen biết từ trước, ngày 20/7/2022, Nguyễn Quốc V đặt vấn đề vay của bà Lê Thị Huyền T1 (sinh năm: 1984; trú tại: A Đ, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum) số tiền 300.000.000 đồng, trong thời hạn 01 tháng, lãi suất 150.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Để bảo đảm cho khoản vay này, V đã sử dụng GCNQSDĐ giả số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Quốc V để thế chấp cho bà T1. Sau khi hai bên thống nhất và ký giấy nợ thì bà T1 giao cho V 300.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 18/8/2022, V không trả số tiền nợ cũ mà tiếp tục đặt vấn đề vay thêm số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn 01 tháng và lãi suất như cũ. V tiếp tục đề nghị sử dụng GCNQSDĐ giả trên để thế chấp bảo đảm cho khoản vay này. Sau khi hai bên thống nhất và ký giấy nợ thì bà T1 chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng B2 tên Thái Văn T3 số tiền 99.800.000 đồng theo yêu cầu của V và đưa cho V 100.200.000 đồng tiền mặt. Đến khoảng cuối tháng 12/2022, V không trả số tiền nợ cũ mà tiếp tục đặt vấn đề vay thêm số tiền 250.000.000 đồng, trong thời hạn 02 tháng, lãi suất như cũ. V tiếp tục đề nghị sử dụng GCNQSDĐ giả trên để thế chấp bảo đảm cho khoản vay này. Sau khi hai bên thống nhất và ký giấy nợ thì bà T1 giao cho V 250.000.000 đồng tiền mặt.

Đến ngày 25/2/2023, không thấy V trả nợ theo thoả thuận nên bà T1 đã yêu cầu V viết giấy nợ số tiền 920.000.000 đồng (tiền gốc 750.000.000 đồng và tiền lãi 170.000.000 đồng) và xé bỏ các giấy nợ cũ. V hẹn sau 01 tháng sẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi, nếu không thì V sẽ chuyển nhượng thửa đất theo GCNQSDĐ đã thế chấp cho bà T1. Đến ngày 03/4/2023, bà T1 không liên lạc được với V nên mang GCNQSDĐ trên đến Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P kiểm tra thì được biết là GCNQSDĐ giả.

* Sử dụng GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Thị V3 để Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng của ông Lưu Đức V2:

Ngày 25/7/2022, Nguyễn Quốc V cùng Lê Tiến C1 (sinh năm: 1991; trú tại: 1 N, tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đến nhà ông Lưu Đức V2 (sinh năm: 1987; trú tại: A V, tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đặt vấn đề thế chấp GCNQSDĐ số CQ 774578 giả, mang tên bà Nguyễn Thị V3 để vay số tiền 700.000.000 đồng, trong thời hạn 05 tháng. Sau khi thoả thuận xong, V dẫn ông V2 và C1 đến khu vực tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai để chỉ lô đất cho ông V2 xem và nói đây là đất của V thì ông V2 đồng ý cho V vay tiền. Để đảm bảo cho khoản vay này, V và ông V2 đến Văn phòng C2 (địa chỉ: B L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7408, quyển số 05/2022.TP/CC-SCC/HĐGD với số tiền 2.200.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận nếu V không trả cho ông V2 số tiền đã vay đúng hạn thì ông V2 sẽ trả thêm cho V số tiền 1.500.000.000 đồng để mua luôn lô đất này. Sau khi ký hợp đồng xong, ông V2 trừ 1.000.000 đồng tiền

3

phí công chứng mà V phải chịu và chuyển vào tài khoản ngân hàng V4 số 0291000259168, tên Nguyễn Quốc V số tiền 699.000.000 đồng.

Đến ngày 10/8/2022, Văn phòng C2 thông báo cho ông Lưu Đức V2 biết GCNQSDĐ trên là giả nên ông V2 đã làm đơn khởi kiện Văn phòng C2 tại TAND thành phố Pleiku. Trong quá trình thụ lý, giải quyết TAND thành phố Pleiku đã trưng cầu phòng K Công an tỉnh G giám định GCNQSDĐ trên. Ngày 29/12/2022, phòng K Công an tỉnh G có Kết luận giám định số 07/KL-KLGÐ kết luận GCNQSDĐ trên là giả. TAND thành phố Pleiku nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên chuyển hồ sơ vụ án sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

* Sử dụng GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Thị V3 để đặt vấn đề chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành T2:

Ngày 08/8/2022, thông qua mối quan hệ quen biết từ trước, Nguyễn Quốc V đặt vấn đề bán thửa đất theo GCNQSDĐ giả số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Thị V3 cho ông Nguyễn Thành T2 (sinh năm: 1993; trú tại: C H, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Nghe vậy, ông T2 yêu cầu V dẫn đi xem đất. Đến chiều ngày 09/8/2022, V dẫn ông T2 đến khu vực tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai để chỉ lô đất cho ông T2 xem và nói đây là đất của V. Sau đó, ông T2 đề nghị V đưa GCNQSDĐ để đi kiểm tra quy hoạch thì V đồng ý. Ngày 10/8/2022, V mang GCNQSDĐ giả số CQ 774578 đi cùng với ông T2 đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P để kiểm tra. Đến ngày 11/8/2022, ông T2 và V đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P nhận kết quả thì được thông báo GCNQSDĐ số CQ 774578 mang đến kiểm tra có dấu hiệu bị làm giả. Sau đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố P đề nghị Công an thành phố P phối hợp, xử lý.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) Hợp đồng uỷ quyền (Bên uỷ quyền: bà Nguyễn Thị V3; Bên được uỷ quyền: ông Nguyễn Quốc V) ngày 07/02/2020, bốn trang, bản sao.
  • 01 (một) Hợp đồng uỷ quyền (Bên uỷ quyền: bà Nguyễn Thị V3; Bên được uỷ quyền: ông Nguyễn Quốc V) ngày 11/8/2020, bốn trang, bản chính.
  • 01 (một) Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 778, quyển số 01/TP-CC-SCC/HĐGD, bản photocoppy, ba trang.
  • 01 (một) Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 768, quyển số 01/TP-CC-SCC/HĐGD, năm trang, bản chính.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ774578, bản photocoppy.
  • 01 (một) Giấy mượn tiền đề ngày 25/7/2022, có nội dung Nguyễn Quốc V mượn của Lưu Đức V2 số tiền 700.000.000 đồng, một mặt, bản gốc.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Quốc V (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.
  • 01 (một) Giấy mượn tiền, đề ngày 25/02/2023, có nội dung Nguyễn Quốc V mượn của Lê Thị Huyền T1 số tiền 920.000.000 đồng, hai mặt, bản gốc.

4

  • 01 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 285/UBND-XNTTHN ngày 09/05/2022 của UBND phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, bản chính.
  • 01 cuốn Sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Quốc V1, số 4263,bản chính.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Thị V3 (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ 1, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.
  • 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Thị V3 (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.

(Các tài liệu này được lưu tại Hồ sơ vụ án)

* Về dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị can Nguyễn Quốc V đã tác động gia đình khắc phục số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại Lê Thị Huyền T1. Do đó, bị hại Lê Thị Huyền T1 tiếp tục yêu cầu Nguyễn Quốc V phải trả số tiền 700.000.000 đồng và bị hại Lưu Đức V2 yêu cầu Nguyễn Quốc V phải trả số tiền 700.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS-P1 ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

2. Diễn biến phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Đối với số tiền nhận của anh Lưu Đức V2, bị cáo xác nhận đã chuyển cho anh C1, chị H hơn 300.000.000đ để trả nợ trước đó. Nay bị cáo sẽ có trách nhiệm trả tiền cho anh V2, chị T1.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 13 đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V từ 3 đến 4 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 16 năm đến 18 năm tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị Lê Thị Huyền T1 số tiền 700.000.000 đồng và bị hại anh Lưu Đức V2 số tiền 700.000.000 đồng.

5

Vật chứng của vụ án: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến về tội danh của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều luật như luận tội của Kiểm sát viên và cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ để xử bị cáo mức án thấp hơn để nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị buộc anh C1, chị H nộp lại tiền đã nhận để bồi thường cho anh V2.

- Bị hại: Anh Lưu Đức V2 nhất trí nội dung hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng, xác nhận bị cáo đã chiếm đoạt của anh số tiền 700.000.000 đồng. Đề nghị toà án buộc bị cáo bồi thường và buộc người đã nhận tiền là anh C1 và chị H phải nộp lại tiền để trả cho anh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị V3 là cô ruột của bị cáo khai không biết việc bị cáo lừa làm giấy tờ giả và chiếm đoạt tiền của người khác, nay bà không có ý kiến gì.

Ông Nguyễn Quốc V1 là cha của bị cáo xác nhận bị cáo có tác động ông bà bồi thường nên ông đã vay tiền bồi thường cho chị T1 50.000.0000đ, nay ông không yêu cầu bị cáo trả lại và không yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều ra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định:

Do muốn chiếm đoạt tiền của người khác để sử dụng nên từ tháng 7/2022 đến tháng 12/2022 bị cáo Nguyễn Quốc V đã đặt làm giả 03 GCNQSDĐ số CQ 774578 (02 giấy mang tên bà Nguyễn Thị V3 và 01 giấy mang tên bà Nguyễn Quốc V) trùng với thửa đất V đã chuyển nhượng cho người khác rồi sử dụng 01 GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Quốc V thế chấp cho chị Lê Thị Huyền T1 để vay nhiều lần và chiếm đoạt tổng số tiền 750.000.000 đồng; Sử dụng 01 GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Thị V3 để chuyển nhượng cho anh Lưu Đức V2 chiếm đoạt số tiền 700.000.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 02 bị hại là 1.450.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung “Sử dụng con dấu, tài liệu giả hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt

6

nghiêm trọng” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm tài sản của các bị hại, gây nguy hiểm đặc biệt lớn cho xã hội. Hành vi phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, gây nguy hiểm lớn cho xã hội.

Ngoài ra, bị cáo còn sử dụng 01 GCNQSDĐ giả mang tên bà Nguyễn Thị V3 để đặt vấn đề chuyển nhượng cho anh Nguyễn Thành T2 với mục đích chiếm đoạt tiền của anh T2 nhưng do anh T2 đề nghị đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P để kiểm tra, ngày 11/8/2022 bị cáo và anh T2 đến nhận kết quả thì được thông báo GCNQSDD giả nên không thực hiện giao dịch và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P đã đề nghị Công an thành phố P phối hợp xử lý. Do đó, hành vi này chưa được coi là tội phạm nhưng xem xét để đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần đặt mua GCNQSDD giả và nhiều lần dùng giấy tờ giả này để thế chấp, chuyển nhượng chiếm đoạt tiền của các bị hại nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với 02 tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo từng phục vụ trong quân ngũ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với 02 tội;

Bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần cho bị hại Lê Thị Huyền T1 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Bị cáo phạm 02 tội, thực hiện hành vi liều lĩnh, coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc trong khung hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

* Đối với số tiền chiếm đoạt của anh Lưu Đức V2: Ngày 25/7/2022 bị cáo nhận tiền của anh V2 thì cũng trong ngày, bị cáo đã chuyển khoản cho chị Huỳnh Thị Ngọc H 267.400.000 đồng; ngày 27/7/2022 chuyển 1.200.000 đồng cho anh Lê Tiến C1 và 38.000.000 đồng cho chị H. Theo bị cáo khai anh C1 và chị H là vợ chồng, bị cáo nợ tiền anh C1 nên anh C1 tìm người mua đất giúp bị cáo, khi nhận được tiền anh C1 nói bị cáo chuyển qua tài khoản chị H. Nay không có căn cứ xác định anh C1, chị H có đồng phạm với bị cáo trong vụ án nhưng chứng minh được số tiền nhận được của anh V2, bị cáo đã chuyển cho anh C1 và chị H nên cần buộc anh chị nộp lại để trả cho anh V2.

Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị T1 trong một thời gian dài nên không có căn cứ xác định bị cáo chuyển tiền của chị T1 cho người nào nên cần buộc bị cáo bồi thường cho chị T1.

7

* Đối với việc anh Lưu Đức V2 yêu cầu Văn phòng C2 bồi thường: Tại phiên toà, anh V2 rút yêu cầu này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại như sau:

- Bồi thường cho bị hại Lê Thị Huyền T1 số tiền 750.000.000 đồng, đã bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường 700.000.000 đồng;

- Bồi thường cho bị hại Lưu Đức V2 số tiền 700.000.000 đồng khấu trừ số tiền 306.600.000 đồng đã buộc anh Lê Tiến C1 và chị Huỳnh Thị Ngọc H trả lại. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền 393.400.000 đồng.

[6] Về vật chứng:

  • 01 Hợp đồng uỷ quyền (Bên uỷ quyền: bà Nguyễn Thị V3; Bên được uỷ quyền: ông Nguyễn Quốc V) ngày 07/02/2020, bốn trang, bản sao.
  • 01 Hợp đồng uỷ quyền (Bên uỷ quyền: bà Nguyễn Thị V3; Bên được uỷ quyền: ông Nguyễn Quốc V) ngày 11/8/2020, bốn trang, bản chính.
  • 01 Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 778, quyển số 01/TP-CC-SCC/HĐGD, bản photocoppy, ba trang.
  • 01 Hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất số công chứng 768, quyển số 01/TP-CC-SCC/HĐGD, năm trang, bản chính.
  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ774578, bản photocoppy.
  • 01 Giấy mượn tiền đề ngày 25/7/2022, có nội dung Nguyễn Quốc V mượn của Lưu Đức V2 số tiền 700.000.000 đồng, một mặt, bản gốc.
  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Quốc V (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.
  • 01 Giấy mượn tiền, đề ngày 25/02/2023, có nội dung Nguyễn Quốc V mượn của Lê Thị Huyền T1 số tiền 920.000.000 đồng, hai mặt, bản gốc.
  • 01 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 285/UBND-XNTTHN ngày 09/05/2022 của UBND phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai, bản chính.
  • 01 cuốn Sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Quốc V1, số 4263,bản chính.
  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Thị V3 (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.
  • 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CQ 774578, mang tên bà Nguyễn Thị V3 (Thửa đất số 232; Tờ bản đồ số 70; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Diện tích: 375 m2), bản gốc.

Đây là các tài liêu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội nên tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm đối với số tiền còn phải bồi thường; anh Lê Tiến C1 và chị Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải nộp.

Vì các lẽ trên,

8

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 4 (bốn) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
    • Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quốc V chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
    • * Buộc bị cáo Nguyễn Quốc V bồi thường như sau:
    • - Bồi thường cho chị Lê Thị Huyền T1 số tiền 750.000.000 đồng, đã bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường cho chị Lê Thị Huyền T1 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng);
    • - Bồi thường cho anh Lưu Đức V2 số tiền 700.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 306.600.000 đồng đã buộc anh Lê Tiến C1 và chị Huỳnh Thị Ngọc H trả lại. Bị cáo còn phải bồi thường cho anh Lưu Đức V2 số tiền 393.400.000 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
    • * Buộc anh Lê Tiến C1 nộp lại số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng); Buộc chị Huỳnh Thị Ngọc H nộp lại số tiền 305.400.000 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu bốn trăm nghìn đồng) để trả cho anh Lưu Đức V2.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • Bị cáo Nguyễn Quốc V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 44.802.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm lẻ hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Anh Lê Tiến C1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Chị Huỳnh Thị Ngọc H phải chịu 15.270.000 đồng (Mười lăm triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

9

  1. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
  2. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND cấp cao;
  • - TAND cấp cao;
  • - Viện KSND tỉnh Gia lai;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
  • - VP CQCSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tam giam T20;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Tòa HS, VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Hồng

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 4 (bốn) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quốc V chấp hành hình phạt chung là 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/3/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger