Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-5-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.

  • Ông Giáp Văn Phẩm.

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 445/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 171/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lành Thị K, sinh năm 1989 (có mặt).

  • Nơi thường trú: Thôn Khuôn Thần, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

  • Nơi ở: Thôn Phượng Năng, xã Kiên Thành, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

  • - Bị đơn: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1993 (vắng mặt).

  • Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/11/2023, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Lành Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn C kết hôn với nhau vào năm 2021, trước khi cưới được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống cùng nhau, tình cảm ban đầu hạnh phúc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế, nuôi dạy con, không tôn trọng lẫn nhau làm cho cuộc sống luôn căng thẳng. Đến tháng 9/2023, chị về nhà mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị thấy không thể tiếp tục chung sống nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 20/12/2022. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị nuôi dưỡng do con còn nhỏ, dưới ba tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đặng Văn C trình bày tại Bản tự khai ngày 28/12/2023:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lành Thị K được tự do tìm hiểu, được sự đồng ý, cho phép của gia đình hai bên. Sau đó vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 11/10/2022. Sau khi kết hôn chị K về nhà anh làm dâu ngay, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10/2023, anh và chị K không xảy ra mâu thuẫn gì, tuy nhiên giữa chị K và vợ chồng anh trai anh có xảy ra mâu thuẫn về tiền bạc nên chị K bỏ về nhà đẻ. Anh có nói chuyện bảo chị K quay về nhưng chị K không đồng ý quay về. Nay chị K làm đơn xin ly hôn thì nguyện vọng của anh là mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái, anh không đồng ý ly hôn chị K.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 20/12/2022. Cháu đang sống cùng anh, phát triển khỏe mạnh, bình thường. Anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung. Trường hợp vợ chồng không thể hòa giải mà phải ly hôn thì anh xin nhận nuôi con và không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên toà:

Nguyên đơn là chị Lành Thị K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn anh Đặng Văn C do xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân được một thời gian, không thể tiếp tục chung sống. Về con chung, đề nghị giao con chung là Đặng Ngọc D cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Đặng Văn C được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh C có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lành Thị K:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lành Thị K được ly hôn anh Đặng Văn C.

  2. Về con chung: Giao con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 20/12/2022 cho chị Lành Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết.

  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

  4. Về án phí: Chị Lành Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lành Thị K có đơn xin ly hôn, giải quyết về nuôi con đối với anh Đặng Văn C. Bị đơn anh Đặng Văn C đang cư trú tại thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn anh Đặng Văn C được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh C.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lành Thị K kết hôn với anh Đặng Văn C trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị K và anh C là hợp pháp.

Theo lời trình bày của nguyên đơn chị Lành Thị K thì quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay chị K và anh C không còn thường xuyên sống chung cùng nhau, đã ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Theo quy định tại Điều 19- Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Lành Thị K và anh Đặng Văn C đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Tòa án đã hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng chị K kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh C. Anh C không đồng ý ly hôn nhưng anh C không đến Tòa án để hòa giải, không tham gia phiên tòa xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng đoàn tụ của anh C là không có căn cứ.

Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lành Thị K và anh Đặng Văn C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56- Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho chị Lành Thị K được ly hôn anh Đặng Văn C là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị Lành Thị K và anh Đặng Văn C có một con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 20/12/2022. Chị K và anh C đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cháu D còn rất nhỏ, mới được 17 tháng tuổi; chị Lành Thị K có nguyện vọng nuôi con chung, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung phát triển đảm bảo. Tại khoản 3, Điều 81- Luật Hôn nhân và gia đình quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Do vậy, cần thiết phải giao cháu Đặng Ngọc D cho chị Lành Thị K nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét, giải quyết do chị K không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Lành Thị K và anh Đặng Văn C trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147- Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Lành Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280- Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lành Thị K được ly hôn anh Đặng Văn C.

  2. Về con chung: Giao cho chị Lành Thị K trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đặng Ngọc D, sinh ngày 20/12/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

  3. Sau khi ly hôn, anh Đặng Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Lành Thị K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005822 ngày 07 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Lành Thị K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Lành Thị K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  6. Bị đơn anh Đặng Văn C không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;

  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.

  • - UBND xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 445/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger