|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
|
|
Bản án số: 63 /2024/DS-ST Ngày: 12/8/2024 V/v: “tranh chấp di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng
Ông Võ Duy Bảo
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Hữu Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09&12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 2 năm 2024 về “Tranh chấp di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2024 /QĐXXST- DS ngày tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị S, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nông Thị N, sinh năm 1987; địa chỉ: Số E, đường N, khối T, thành phố V, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T; sinh năm 1970 (có mặt); địa chỉ: xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1934 (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bà L ông Bùi Văn t, sinh năm 1970 (có mặt)
- Bà Phùng Thị H, sinh năm 1967 (có mặt)
Đều cư trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Nhà số C, ngõ F, đường H, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
- Bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện M"đắk, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
- Bà Bùi Thị C, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm T, xã H, thành phố Đ, tỉnh Bình Dương (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của các bà: Thuân, H1, Đ, C là bà Nông Thị N. (có mặt) và bà Hồ Thị P, sinh năm 1999; địa chỉ: Số E, đường N, khối T, phường H, thành phố V, Nghệ An.(vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện N
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H2, chức vụ: Chuyên viên phòng T6. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nông Thị N trình bày:
Bố của bà S là ông Bùi văn V (còn gọi là Bùi văn Thời), chết năm 1996 có với bà Trần Thị L1 hiện đang sống cùng em trai là Bùi Văn T. Quá trình chung số bố mẹ bà tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Năm 1996, bố bà chết không để lại di chúc, mẹ bà đã tự ý kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi không có sự phân chia di sản thừa kế của tất cả các con trong gia đình. Ngày 30/11/2009 Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị L1. Cụ Bùi Văn V1 và cụ Trần Thị L1 sinh được 06 người con chung gồm:
Bà Bùi Thị S, Bùi Thị T2, Bùi Thị Đ, Bùi Văn T, Bùi Thị H1, Bùi Thị C. Nay các chị em trong gia đình thống nhất phân chia thừa kế là 1/2 thửa đất số 348 nêu trên là di sản của bố các bà để lại. Do đó, bà khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đát số AP 947291 do UBND huyện N cấp cho bà Trần Thị L1 ngày 30/11/2009 tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và tất các qeacs quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Trần Thị T3 (tên gọi khác Trần Thị L1) đối với thửa đất 201, tờ bản đồ số 2, bản đồ 299, diện tích 570m² (nay thửa 438, diện tích 931m²).
Chia di sản thừa kế đối 1/2 diện tích thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7, diện tích 931m² = 465,5m² tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn ôngBùi Văn Thịnh trình bày:
Ông không nhất trí với tư cách tham gia tố tụng vì ông không đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng mẹ già và được ở tại khu đất của cha mẹ theo phong tục tập quán của người Việt Nam là hoàn toàn hợp lệ. Vợ chồng ông là người cùng bố mẹ quản lý sử dụng khối tài sản theo quy định, đúng mục đích và là nơi thờ phụng tổ tiên ông bà chứ không có ý định phân lô lấy tiền tiêu. Việc Giấy chứng nhận mang tên bà Trần Thị L1 là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật vì nguồn gốc thửa đất do cụ Trần Văn A (ông ngoại) tặng cho mẹ ông nên việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng trình tự, thủ tục. Vợ chồng ông là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài chính hàng năm thay bà L1. Ông không đồng ý hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì không có căn cứ. Ông không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do về nguồn gốc thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của bà Tràn Thị L2 được bố mẹ tặng cho trước khi kết hôn với ông Bùi Văn V1.
- Nngười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
1. Bà Trần Thị L1 trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Nguồn gốc thửa đất do bố mẹ bà khai hoang năm 1925 và 1959 bố mẹ bà tặng cho bà trước khi kết hôn với ông V1. Bà và ông V1 quản lý sử dụng cho đến năm 1996 ông V1 chết không để lại di chúc. Quá trình sử dụng đất như sau: Năm 2008 bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai khiếu nại, tranh chấp gì, thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các con đã trưởng thành và có nơi ở ổn định và không có ý kiến phân chia di sản của ông V1 để lại. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà hoàn toàn phù hợp với nguồn gốc. Thửa đất tranh chấp bà ông V1 cùng quản lý sử dụng chứ không phải bỏ tiền ra mua. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 đã hết thời hiệu khởi kiện phân chia thừa kế theo Bộ luật dân sự năm 1995 (thời hiệu 10 năm). Do đó, bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do đã hết thời hiệu.
2. Bà Phùng Thị H trình bày: Bà nhất trí với ý kiến của ông T và bà L1. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
3.Bà Bùi Thị C, Bùi Thị Đ, Bùi Thị H1, Bùi Thị T1; Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp các bà được hưởng phần thừa kế của ông V1 các bà đồng ý nhập vào phần di sản thừa kế của bà S được hưởng. Bà Bùi Thị S được toàn quyền đứng tên là người sử dụng đất đối với phần di sản được chia và thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Thị S theo quy định của pháp luật.
4. Ủy ban nhân dân huyện N, ông Nguyễn Thế H2 đại diện theo ủy quyền trình bày:
Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 02, diện tích 570m² (nay là thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m²) tại địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP947291 ngày 30 tháng 11 năm 2009 cho bà Trần Thị L1 dựa trên cơ sở tài liệu, hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị L1. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Văn phòng đăng ký đất đai huyện N hiện nay đang quản lý thể hiện: Thửa đất có nguồn gốc của cha đẻ bà Trần Thị L1 là ông Trần Văn A tự khai phá vào năm 1925. Đến năm 1970 chuyển nhượng lại cho con Trần Thị L1. Bà Trần Thị L1 lấy ông Bùi Văn V1 vào năm 1959. Sau khi bà L1 và ông V1 kết hôn thì đã sinh sống trên thửa đất này cho đến khi ông V1 chết vào năm 1996. Sau khi ông V1 chết thì năm 1997 bà L1 đã đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất đối với thửa đất số 201, tờ bản đồ số 02, diện tích 570m² ngày 27 tháng 11 năm 1997 mang tên bà Trần Thị T3; đến ngày 30 tháng 11 năm 2009 bà Trần Thị L1 được cấp đổi lại Giấy chứng nhận QSD đất có số phát hành AP947291 tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m², địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên, theo báo cáo số 82/BC- UBND ngày 21/4/2023 của UBND xã N thì thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Trần Thị L1 có nguồn gốc hình thành khoảng năm 1929 do ông Bùi Văn V2 sử dụng. Khoảng thời gian năm 1954, ông Bùi Văn N1 sử dụng (Ông Bùi Văn V2 có 3 người con là ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn V1 (Thời), ông Bùi Văn T4). Sau năm 1954, ông Bùi Văn V1 đi bộ đội về ở và sinh hoạt trên mảnh đất của ông N1. Ông Bùi Văn V1 (Thời) kết hôn với bà Trần Thị L1, cả gia đình sinh sống trên thửa đất này đến thời điểm cấp giấy chứng nhận QSD đất theo Nghị định 64/CP (lúc này ông Bùi Văn V1 đã chết).
Theo phiếu lấy ý kiến khu dân cư do UBND xã N thực hiện ngày 20/10/20008 thì thửa đất đã cấp giấy chứng nhận cho bà Trần Thị L1 có nguồn gốc do ông Trần Văn A (cha) tự khai phá năm 1925. Đến năm 1970, chuyển nhượng lại cho con là bà Trần Thị L1 sử dụng.
Cũng theo báo cáo của UBND xã N thì cha đẻ của bà Trần Thị L1 là ông Trần Công H3 (L3, T5) ở và sinh hoạt trên mảnh đất khác, không sử dụng thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07 (BĐ CT299/TTg) lần nào.
Từ những căn cứ trên đây, thì thửa đất đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Trần Thị L1 đã bị sai nguồn gốc sử dụng đất.
Hiện nay các bên đương sự tranh chấp thừa kế đối với thửa đất nói trên, thì ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện N như sau: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị L1 nói trên là chưa đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa: Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị L1 cho rằng thửa đất tranh chấp là tài sản riêng của bà L1 và ông T yêu cầu áp dụng thời hiệu chia thừa kế theo bộ luật dân sự 1995 là 10 năm. Do đó đã hết thời hiệu chia di sản của cụ V1 để lại.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án có vi phạm về thời hạn xét xử.
Về nội dung
Đối với yêu cầu hủy tất cả các quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/1997 mang tên Trần Thị T3 đối với thửa đất số 201, tờ bản đồ số 02, diện tích 570m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 947291 ngày 30/11/2009 mang tên Trần Thị L1 đối với thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy các văn bản nêu trên.
- Đối với yêu cầu phân chia di sản thừa kế:
Tại Đơn xin cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/11/2008 mang tên Trần Thị L1 thể hiện người sử dụng đất là bà L1 và ông Bùi Văn T4. Tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án cũng thể hiện ông Bùi Văn V1 (Thời) và bà Trần Thị L1 sau khi kết hôn đã cùng nhau sinh sống, xây dựng, tôn tạo thửa đất số 438 cho đến thời điểm ông V1 (Thời) chết vào năm 1996. Do đó, bà L1 và ông T cho rằng thửa đất là tài sản riêng của bà L1 do bà L1 được ông Trần Văn A tặng cho trước thời kỳ hôn nhân là không có cơ sở.
Ngoài ra, tại Báo cáo số 82 ngày 21/4/2023 của UBND xã N thể hiện thửa đất đã được cấp số 438 có nguồn gốc hình thành khoảng năm 1929 do ông Bùi Văn V2 sử dụng. Khoảng thời gian năm 1954, ông Bùi Văn N1 sử dụng (ông Bùi Văn V2 có 03 người con là ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn V1 (Thời), ông Bùi Văn T4). Sau năm 1954, ông Bùi Văn V1 đi bộ đội về ở và sinh hoạt trên mảnh đất của ông N1. Ông Bùi Văn V1 (Thời) kết hôn với bà Trần Thị L1, cả gia đình sinh sống trên thửa đất này đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP (lúc này ông Bùi Văn V1 đã chết). Đồng thời, cũng theo Báo cáo của UBND xã N thì cha đẻ của bà Trần Thị L1 là Trần Công H3 (L3, T5) ở và sinh hoạt trên mảnh đất khác, không sử dụng thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07 (BĐ CT299/TTg) lần nào. Tuy vậy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chưa xác minh và lấy lời khai của ông Bùi Văn N1, Bùi Văn T4 (con ông Bùi Văn V2) về nguồn gốc thửa đất tranh chấp nếu ông N1, ông T4 còn sống. Nếu ông N1, ông T4 đã mất thì xác minh và lấy lời khai người thân ông N1 và ông T4 (lời khai của vợ con) về nội dung trên, cũng chưa xác minh làm rõ nguyên nhân diện tích thửa đất tranh chấp tăng từ 570m² lên 931m², tăng từ thời điểm nào, từ trước đến nay thửa đất có sự thay đổi về ranh giới, tứ cận không, để có cơ sở giải quyết vụ án. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 259 BLTTDS tạm ngừng phiên tòa để xác minh làm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1]Tại phiên tòa ông Bùi Văn T cho rằng Tòa án xác định ông thịnh là bị đơn là không đúng. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ khoản 3 Điều 68 BLTTDS thì bị đơn là người nguyên đơn khởi kiện do đó xác định ông T là bị đơn là có căn cứ đồng thời thửa đất tranh chấp đang do vợ chồng ông T quản lý, sử dụng. Do đó căn cứ khoản 3 Điều 68 BLDS xác định ông T là bị đơn làcó căn cứ.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện yêu cầu khởi kiện chia thừa kế là 1/2 thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện N đã cấp cho bà Trần Thị L1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là " Tranh chấp chia di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt" theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Điều 34, 37, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản của cụ Bùi Văn V1 là 1/2 thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, bị đơn và cụ Trần Thị L1 yêu cầu xác định tài sản được bố mẹ tặng cho là tài sản riêng của cụ L1.
Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ các đương sự thống nhất cụ V1 và cụ L1 kết hôn năm 1959, sau khi kết hôn sinh sống trên thửa đất 438, tờ bản đồ số 7 tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cho đến khi cụ V1 qua đời. Hai cụ sinh được 06 người con.
Về quá trình sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất: Về hồ sơ qua các thời kỳ bà Trần Thị T3 (còn gọi L1) được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 613/QSDĐ/394/QĐH ngày 27/11/1997 đất cấp chung bao gồm các loại đất trong đó có thửa đất số 201 gồm đất thổ cư 200m², đất vườn 370m². Năm 2007 đo đạc bản đồ địa chính, gia đình bà L1 cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 947291 do UBND huyện N cấp ngày 30/11/2009 thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7, diện tích 931. Đối với diện tích tăng từ diện tích tăng thêm so với cấp lần đầu năm 1997. Căn cứ Giấy giải trình về việc chênh lệch thửa đất (BL 233) của bà L1 thể hiện lý do chênh lệch do khách quan, thời điểm phát sinh chênh lệch từ khi hình thành thửa đất. Như vậy về diện tích chênh lệch do phương thức đo vẽ. Tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận từ trước đến nay thửa đất tranh chấp tứ cận không thay đổi. Do đó, có căn cứ xác định thửa đất tranh chấp có diện tích 931m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ sơ đồ hiện trạng 928,6m²
Về nguồn gốc thửa đất:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và những người liên quan về phía nguyên đơn cho rằng thửa đất trên là tài sản chung của cụ V1 và cụ L1. Cụ L1 và bị đơn, bà H cho rằng thửa đất trên là tài sản riêng của cụ L1 do được cụ Trần Văn A bố đẻ cụ L1 khai hoang năm 1925 và tặng cho cụ L1 năm 1970.
Như vậy, các đương sự không thống nhất được với nhau về nguồn gốc thửa đất, căn cứ Báo cáo số 82/BC - UBND ngày 21/4/2023 của UBND xã N về báo cáo nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của bà Trần Thị L1: "Theo hồ sơ lưu tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện N, thửa đất do ông Trần văn A1 (cha tự khai phá năm 1925 đến năm 1970 nhượng lại cho con Trần Thị L1 quyền sử dụng đất). Tuy nhiên, UBND xã kiểm tra xác minh lại nguồn gốc và quá trình sử dụng đất như sau: Theo ý kiến của một số người cao tuổi trong khu dân cư cho rằng; Thửa đất hình thành khoảng năm 1929 do ông Bùi Văn V2 sử dụng. Ông Bùi Văn V2 có 03 người con gồm: Ông Bùi Văn N1, ông Bùi Văn V1 (Thời), ông Bùi Văn B. Khoảng 1954 ông N1 sử dụng, đến năm 1954 ông V1 đi bộ đội về sinh hoạt trên mảnh đất của ông N1. Ông V1 kết hôn với bà L1 cả gia đình sinh sống trên mảnh đất đó đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP thì ông BùiVăn V3 đã chết. Theo người dân thì cha đẻ của bà L1 là ông Trần Công H3 (L3, T5) ở sinh hoạt trên mảnh đất khác, không sử dụng thửa đất 438 lần nào. Như vậy, về nguồn gốc đất theo quy định thuộc thẩm quyền xác định của Ủy ban nhân dân xã. Như vậy thửa đất nêu trên của ông N1 sử dụng sau này ông V3 sử dụng. Sau khi cụ V3 kết hôn với cụ L1 năm 1959 thì sinh sống trên thửa đất này.
Từ phân tích trên có căn cứ xác định đất số 438, tờ bản đồ số 7 tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là tài sản chung của vợ chồng cụ V3 theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959. Nên thửa đất nêu trên là tài sản chung của cụ V3 và cụ L1 trong thời kỳ hôn nhân không phải là tài sản riêng của cụ L1. Do đó, nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế 1/2 thửa đất là di sản của cụ V3 để lại là có căn cứ.
Về thời hiệu chia thừa kế: Cụ Bùi Văn V1 (mất năm 1996) đến ngày 30/5/2022 nguyên đơn làm đơn khởi kiện; Theo quy định tại khoản 1 Điều 623, Điều 688 BLDS 2015, nên thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ V1 đang còn thời hiệu theo quy định của pháp luật. Do đó, bị đơn và người liên quan cụ Trần Thị L1 cho rằng hết thời hiệu vì thời điểm cụ V1 chết năm 1996 nên áp dụng Bộ luật Dân sự 1995 thì thời hiệu chia di sản thừa kế là 10 năm chia thừa kế là không có căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 quy định" Thời hiệu được áp dụng theo quy định của luật này"
- Về hàng thừa kế: Do cụ V1 chết không để lại di chúc, nên hàng thừa kế thứ nhất của cụ Bùi Văn V1 được các đương sự đều thống nhất gồm có cụ Trần Thị L1 (vợ) và các con gồm Bùi Thị S, Bùi Thị T1, Bùi Thị Đ, Bùi Văn T, Bùi Thị H1, Bùi Thị C. Do đó, căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Về di sản thừa kế:Căn cứ kết quả thẩm định tại chỗ ngày 14/ 12/2022 thửa đất nêu trên có diện tích 928,6m² đã được Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP947291 ngày 30 tháng 11 năm 2009 cho bà Trần Thị L1 trị giá theo kết quả định giá 3.000.000đ/m² = 2.793.000.000đ. Về tài sản trên đất ông Bùi Văn T và bà Phùng Thị H đã xây dựng hàng rào bao quanh thửa đất đang do vợ chồng ông Bùi Văn T quản lý. Nguyên đơn yêu cầu chia 1/2 thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 tại xóm T xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là 464,3m² là di sản thừa kế của cụ V1, phần còn lại là tài sản của cụ L1. Theo quy định tại Điều 651 BLDS thì hàng thừa kế của cụ V1 gồm 07 người được phân chia bằng nhau.
- Về công sức quản lý di sản, xét thấy: Cụ V1 chết năm 1996, nên từ năm 1996 đến năm 2005 cụ L1 là người trực tiếp quản lý di sản, thực hiện nghĩa vụ thế đối với nhà nước, từ năm 2005 đến nay do vợ chồng ông T quản lý và thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. Do đó cần trích công sức cho cụ L1 100m² và trích công sức bảo quản phần di sản của cụ V1 cho vợ chồng ông T 64,3m².
Sau khi trích công sức quản lý di sản cho cụ L1vợ chồng ông T thì diện tích còn lại là 300m² chia cho các đồng thừa kế gồm 07 người mỗi người được 42,8 m²(tương đương giá trị 126.000.000đ). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của các bà Bùi Thị T1, Bùi Thị Đ, Bùi Thị H1, Bùi Thị C đều yêu cầu được nhận bằng hiện vật và giao phần diện tích đất của mình được hưởng cho bà Bùi Thị S.
Cụ thể như sau: Xét thấy, thửa đất hiện nay vợ chồng ông T đang trồng cỏ và có thể giao bằng hiện vật, các đương sự có nguyện vọng nhận bằng hiện vật. Giao cho bà Bùi Thị S diện tích đất 214 m² (trong đó có 71m² đất ở) có tứ cận giáp thửa đất số 405, một phần thửa đất số 467 và phần đất giao cho vợ chồng ông T, giáp đường bê tông, giao cho vợ chồng ông T diện tích 107,1m²(trong đó có 14,2m²đất ở) có tứ cận giáp một phần thửa 467, giáp phần đất giao cho cụ L1, giáp đường bê tông, giáp phần đất giao cho bà S. Giao cho cụ L1 142,8 m² và 464,3 m² là tài sản của cụ L1 tổng cộng cụ L1 sử dụng diện tích 607,1m² (114,2m² đất ở) có tứ cận như sau giáp đường, giáp thửa đất 467, giáp phần đất giao cho ông T và giáp đường bê tông. Về tài sản trên đất hàng rào bao quanh thửa đất do vợ chồng ông T xây dựng cần buộc bà S trích tiền công xây dựng bờ tường trên phần diện tích được giao với giá móng 3.400.000đ/1m3, hàng rào 146.000đ/1m2
[2.2] Đối với yêu cầu hủy tất cả các quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/1997 mang tên Trần Thị T3 đối với thửa đất số 201, tờ bản đố số 02, diện tích 570m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 947291 ngày 30/11/2009 mang tên Trần Thị L1 đối với thửa đất số 438, tờ bản đồ số 07, diện tích 931m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ Báo các xác định nguồn gốc và ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện N cho rằng Ủy ban nhân dân xã N đã báo cáo sai về nguồn gốc nên UBND huyện N đã cấp sai về nguồn gốc nen ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị L1 đối với thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7.
[3] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị tạm ngừng phiên tòa xác minh và lấy lời khai của ông Bùi Văn N1, Bùi Văn T4 (con ông Bùi Văn V2) về nguồn gốc thửa đất tranh chấp nếu ông N1, ông T4 còn sống. Nếu ông N1, ông T4 đã mất thì xác minh và lấy lời khai người thân ông N1 và ông T4 (lời khai của vợ con) và xác minh làm rõ nguyên nhân diện tích thửa đất tranh chấp tăng từ 570m² lên 931m², tăng từ thời điểm nào, từ trước đến nay thửa đất có sự thay đổi về ranh giới, tứ cận không, để có cơ sở giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L1 đã giải trình về diện tích tăng giảm (BL 233) và nguyên nhân tăng diện tích nên không cần thiết phải xác minh lại. Đối yêu cầu lấy lời khai của ông N1 và ông T4, Hội đồng xét xử thấy rằng, thửa đất tranh chấp gia đình cụ V1 và cụ L1 đã sinh sống từ năm 1959 đến nay không tranh chấp với ông N2 và ông T4. Do đó, nếu lấy lời khai của những người này không làm thay đổi bản chất vụ án nên không cần thiết kéo dài vụ án để lấy lời khai theo yêu cầu của Kiểm sát viên.
[4] Về chi phí giám định,định giá và thẩm định tại chỗ:Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm chia di sản thừa kế: Bà Bùi Thị S, cụ Trần Thị L1 là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu án phí chia di sản thừa kế. Ông Bùi Văn T phải chịu 6.300.000đ án phí chia di sản thừa kế.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 5 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 618,Điều 623, Điều 649, Điều 650; Điều 651; Điều 66, Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về, án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia di sản thừa kế 1/2 thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 diện tích 464,3 m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 947291 do Ủy ban nhân dân huyện N cấp cho bà Trần Thị L1 và một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 613/QSDĐ/394/QĐH ngày 27/11/1997 đối với diện tích đất thổ cư và đất vườn đối với thửa đất 201 (nay thửa 438), tờ bản đồ số 2 - bản đồ 299 (nay số 7) diện tích 570m² (nay 931m²) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- Phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn V1 đối với 1/2 thửa đất số 438 theo quy định của pháp luật như sau:
- + Chia cho cụ Trần Thị L1 được sử dụng một phần thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 diện tích 142,8 m² và 464,3 m² là tài sản của cụ L1 tổng cộng cụ L1 sử dụng diện tích 607,1m² (114,2m² đất ở) có tứ cận như sau giáp đường, giáp thửa đất 467, giáp phần đất giao cho ông T và giáp đường bê tông.
- + Chia cho ông Bùi Văn T và bà Phùng Thị H được quyền sử dụng 107,1m² (trong đó có 14,2 m² đất ở) tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7, xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- + Chia cho bà Bùi Thị S được quyền sử dụng diện tích đất 214 m² (trong đó có 71m² đất ở) có tứ cận giáp thửa đất số 405, một phần thửa đất số 467 và phần đất giao cho vợ chồng ông T, giáp đường bê tông tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 7 xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.(có sơ đồ kèm theo)
- Về chi phí thẩm định nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí (đã thực hiện xong)
- Về án phí: Miễn án phí chia di sản thừa kế cho nguyên đơn và cụ Trần Thị L1. Buộc ông Bùi Văn T phải chịu 6.300.000đ án phí chia di sản thừa kế.
- Thời hiệu thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản sao bản án./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải M |
Bản án số 63 /2024/DS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 63 /2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế và hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia thừa kế
