TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12/7/2024
“Về việc tranh chấp
hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Tỉ.
Ông Đào Văn Hiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện T, Đồng Tháp.
Bị đơn: Anh Phan Sinh D1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện T, Đồng Tháp.
(Chị D có mặt, anh D1 có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm chị Trần Thị D là nguyên đơn trình bày:
Chị và anh D1 quen biết được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2006 và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/8/2012. Thời gian đầu vợ, chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được.
Nay, chị Trần Thị D làm đơn yêu cầu Toà án xem xét được ly hôn với anh Phan Sinh D1.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống có 02 con chung Phan Hồng H, sinh ngày 13/7/2008 và Phan Hồng P, sinh ngày 21/5/2010, hiện hai cháu H và cháu P đang sống chung với vợ chồng anh chị, sau khi ly hôn chị thống nhất giao 02 cháu H và P cho anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
2. Bị đơn là Phan Sinh D1 trình bày ý kiến: Tại văn bản ý kiến ngày 08 tháng 6 năm 2024 anh Phan Sinh D1 trình bày, anh thống nhất theo yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D, anh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp gồm:
- + Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);
- + Giấy khai sinh Phan Hồng H và Phan Hồng P (bản sao);
* Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do bị đơn cung cấp gồm:
- + Đơn xin vắng mặt các phiên họp kiểm tra giao nộp chứng cứ, hòa giải, xét xử nộp cho Tòa án ngày 08 tháng 6 năm 2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ,về ly hôn, nuôi con”.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị hòa giải, xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh D1.
[4] Về nội dung:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị D và anh D1 tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T. Do đó, hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp. Chị D trình bày sau khi cưới, vợ chồng anh chị về xã H chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng gần đây thì phát sinh mâu thuẫn hay có lời qua tiếng lại do bất đồng quan điểm làm cho không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng, vợ chồng tuy sống chung nhưng đã ly thân, do anh chị không hợp tính nhau, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt. Nay, chị Trần Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Phan Sinh D1.
Về phía bị đơn anh Phan Sinh D1, từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh D1 nhằm để tạo điều kiện cho vợ chồng hàn gắn lại tình cảm nhưng anh D1 có nộp văn bản trình bày ý kiến thống nhất theo yêu cầu của chị D, thống nhất ly hôn và đề nghị vắng mặt để Tòa án xem xét, điều này thể hiện anh D1 không có ý muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng và đồng ý theo yêu cầu ly hôn của D.
Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D với anh Phan Sinh D1 là có căn cứ nên chấp nhận.
[4.2] Về quan hệ nuôi con chung:
Chị Trần Thị D và anh Phan Sinh D1 cùng thống nhất thời gian chung sống, vợ chồng có có 02 con chung Phan Hồng H, sinh ngày 13/7/2008 và Phan Hồng P, sinh ngày 21/5/2010, hiện hai cháu H và cháu P đang sống chung với vợ chồng anh chị, sau khi ly hôn chị thống nhất giao 02 cháu H và P cho anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị D không cấp dưỡng nuôi con.
[4.3] Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị D xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, đồng thời anh D1 cũng không có văn bản ý kiến với phần tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 227- Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị D.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn với anh Phan Sinh D1.
2 - Về quan hệ nuôi con chung: Anh D1 được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Phan Hồng H, sinh ngày 13/7/2008 và Phan Hồng P, sinh ngày 21/5/2010, hiện hai cháu H và cháu P đang sống chung với anh D1, chị D không cấp dưỡng nuôi con.
Anh D1 và chị D có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Chị D được quyền thăm con chung không ai được quyền cản trở.
3 - Về cấp dưỡng nuôi con: Do bị đơn không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4 - Quan hệ chia tài sản: Chị D và anh D1 xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp 300.000đồng theo Biên lai thu số 00005741 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Như vậy, chị D đã nộp và chi xong.
Chị Trần Thị D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; anh Phan Sinh D1 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Tuấn |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn D-D
