Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH HOÁ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:63/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm và bà Tô Thị Ninh

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Việt Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/ 2024/ TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Duy T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 1992, tại: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Mạnh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 15/10/2022 Trần Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số: 07/2023/HSST ngày 23/02/2023. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 06/02/2024.

Tiền sự: không.

Nhân thân:

  • Ngày 01/07/2016 Trần Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 10 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 07/2017/HSST ngày 24/02/2017, đã được xóa án tích.
  • Ngày 26/07/2016 Trần Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 17/2017/HSST ngày 28/02/2017, đã được xóa án tích.
  • Ngày 05/08/2016 Trần Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 10/2017/HSST ngày 13/04/2017, đã được xóa án tích.
  • Sáng ngày 01/07/2016, 14/07/2016, Trần Duy T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 257/2017/HSST ngày 18/07/2017, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/08/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

Bị hại: Anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên./ vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Dương Văn C, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm D, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên./Vắng mặt.
  • Chị Hoàng Thị Khánh H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm P, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên./Vắng mặt.
  • Ông Vũ Văn V, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm P, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên./Vắng mặt.
  • Chị Dương Thị H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm B, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên./Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Duy T (Sinh năm: 1992, là người đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích). Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, T đến ở tại nhà của anh Trần Mạnh C1 (Anh trai của T nhưng đã chết), tại xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 21 giờ ngày 31/7/2024, Dương Văn C (Sinh năm: 1998, trú tại: Xóm G, xã Ú, huyện P) là cháu rể của T đến và xin ngủ cùng. Sau đó C phụ giúp mẹ vợ là chị Trần Thị T2, sinh năm 1982 (Chị gái của T) dọn dẹp vì chị T2 đang làm nhà cạnh nhà T ở. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày C phát hiện thấy anh Trần Ngọc T1 (Sinh năm: 1979, trú tại: Xóm Q, xã P, huyện Đ, người đang làm nhà cho chị T2) có để 01 cuộn dây điện lõi bằng đồng, vỏ bằng nhựa, đường kính khoảng 01cm, dài khoảng 10m (Dây cắm điện với mày hàn) trong thùng giấy màu vàng cách cửa phòng T ngủ khoảng 01m nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp cuộn dây điện mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và nói với T, T đồng ý và bảo C ra cửa cảnh giới còn T lấy cuộn dây điện mang vào trong phòng ngủ của mình, sau đó T và C dùng tay tách phần vỏ nhựa ra cho vào túi nilon buộc lại còn phần lõi đồng thì cuộn lại cho vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, biển kiểm soát 20B1- 494.51 của C. Khoảng 06 giờ ngày 01/8/2024, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1- 494.51 chở T đi theo quốc lộ C để bán tài sản, khi đi đến khu vực cầu K, T liền lấy túi nilon đựng vỏ nhựa dây điện vứt xuống suối rồi C tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T đến cửa hàng thu mua sắt vụn của gia đình ông Vũ Văn V (Sinh năm: 1969) thuộc xóm P, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. T hỏi ông V mua dây đồng giá bao nhiêu tiền thì ông V nói 150.000 đồng/01kg, T và C đồng ý bán cho ông V sau khi cân được 1,7kg, ông V đưa cho T số tiền 250.000 đồng, số tiền này T được 100.000 và T mua xăng hết 50.000 đồng còn C được chia 100.000 đồng.

Đến khoảng 20 giờ ngày 01/8/2024, C nói với T anh T1 có để 01 cuộn dây điện của máy hàn dưới bàn băm trong bếp. Sau đó, T lấy cuộn dây điện mang về phòng và tự tách vỏ nhựa ra khỏi dây rồi mượn xe mô tô của C mang đi bán nhưng do đã muộn nên T không đi nữa mà vay của C 100.000 đồng rồi đi đến khu vực xã Y, huyện P mua ma tuý của một người không quen biết mang về nhà sử dụng. Sáng ngày 02/8/2024, T điều khiển mô tô của C mang theo số dây đồng T lấy hôm trước đi đến nhà chị Dương Thị H2 (Sinh năm: 1985) thuộc xóm B, xã Y, huyện P, nói dối chị H2 là dây điện của gia đình mình, sau khi cân được 1,75kg chị H2 trả cho T số tiền 200.000 đồng. Số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 16 giờ ngày 02/8/2024, T thấy anh T1 có để 01 chiếc máy cắt kim loại cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Dongcheng tại gầm cầu thang trước cửa phòng ngủ của T nên T đã rủ C lấy trộm mang đi bán, C đồng ý. Sau đó, T lấy chiếc máy cắt cất giấu vào cốp xe của C rồi C điều khiển xe mô tô chở T đến cửa hàng thu mua sắt vụn của ông Vũ Văn V thuộc xóm P, xã Y, huyện P. Khi đến nơi, C và T gặp chị Hoàng Thị Khánh H1 (Sinh năm: 1992) là con dâu của ông V và nói dối chị H1 là máy cắt của gia đình. Sau khi thoả thuận chị H1 đã mua chiếc máy cắt với giá 300.000 đồng và đưa tiền cho C, C cầm toàn bộ số tiền rồi cùng T đi về nhà.

Ngày 02/08/2024, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản anh Trần Ngọc T1 đã làm đơn trình báo gửi Công an xã P, huyện Đ đề nghị giải quyết.

Ngày 03/8/2024 chị Hoàng Thị Khánh H1 đã giao nộp cho Công an xã P 01 cuộn dây đồng có trọng lượng 1,7kg; 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Dongcheng màu xanh đã qua sử dụng, Dương Văn C giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 20B1-494.51 và số tiền 300.000 đồng.

Tại Kết luận định giá số: 34/KL-ĐG ngày 05/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện Đ kết luận:

  • 01 đoạn dây điện, loại dây để đấu nối máy hàn điện, vỏ nhựa màu đen, không rõ nhãn mác xuất xứ, lõi đồng nặng 1,7 kg, dây cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tiến hành định giá có giá trị là 289.000 đồng, tương đương với giá trị 170.000 đồng/1kg đồng.
  • 01 đoạn dây điện, loại dây để đấu nối máy hàn điện, vỏ nhựa màu đen, không rõ nhãn mác xuất xứ, lõi đồng nặng 1,75 kg, dây cũ đã qua sử dụng. Tại thời điểm tiến hành định giá có giá trị là 297.500 đồng, tương đương với giá trị 170.000 đồng/1kg đồng.
  • 01 máy cắt kim loại cầm tay, màu xanh, nhãn hiệu Dongcheng, model: DSM02-100A, công suất 570W, cũ đã qua sử dụng, mua mới từ tháng 7 năm 2023, tại thời điểm tiến hành định giá có giá trị là 200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản theo yêu cầu định giá số 1126/YC-CQCSĐT ngày 05/08/2024 là 786.500 đồng (Số tiền bằng chữ: Bẩy trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 300.000 đồng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số khung: RLHJA3817GY141367, số máy: JA38E0304372, có gắn biển kiểm soát 20B1- 494.51 (Do Dương Văn C giao nộp); 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Dongcheng ký hiệu DSM 02, màu xanh, máy đã qua sử dụng; 01 cuộn dây đồng có trọng lượng là 1,7kg (Do chị Hoàng Thị Khánh H1 giao nộp). Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 cuộn dây đồng và 01 chiếc máy cắt cầm tay cho anh Trần Ngọc T1 là chủ sở hữu quản lý sử dụng. Đối với 01 cuộn dây đồng, T đã bán cho chị Dương Thị H2, chị H2 sau đó đã bán cho người khác (Không xác định được) nên không thu giữ được. Đối với số vỏ dây điện T và C khai đã vứt tại khu vực cầu K thuộc xã Y, huyện P, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 20B1- 494.51, số khung: RLHJA3817GY141367, số máy: JA38E0304372, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là của anh Đặng Văn M (Sinh năm: 1976, trú tại: Xóm B, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên). Anh M cho biết ngày 10/07/2018 anh mua chiếc xe máy Honda wave, số khung: RLHJA3817GY141367, số máy: JA38E034372 và được Công an thành phố P cấp đăng ký xe BKS: 20H1-455.01. Chiếc xe này là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra khoảng tháng 3 năm 2022 tại Tổ dân phố H, phường H, thành phố P, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã chuyển nguồn tin và chiếc xe mô tô đến cơ quan CSĐT Công an thành phố P giải quyết theo thẩm quyền, số tiền 300.000 đồng hiện đang được bảo quản tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Đ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị hại anh Trần Ngọc T1 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Ông Vũ Văn V và chị Hoàng Thị Khánh H1 yêu cầu Trần Duy T và Dương Văn C ai sử dụng số tiền 250.000 đồng và 300.000 đồng (tiền bán tài sản trộm cắp) thì có trách nhiệm trả lại. Chị Dương Thị H2 không có yêu cầu đề nghị gì.

Quá trình điều tra và tại phiên Toà bị cáo Trần Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSĐH ngày 30 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Duy T về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo Trần Duy T từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả cho ông Vũ Văn V số tiền 250.000đ. Về vật chứng: Số tiền 300.000đ đề nghị trả cho chị Hoàng Thị Khánh H1. Đề nghị truy thu bị cáo số tiền 200.000đ do phạm tội mà có nhưng bị cáo đã sử dụng hết. Ngoài ra còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Bị cáo T không có ý kiến tranh luận, bị cáo T nói lời sau cùng, đến nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt những người tham gia tố tụng: Tại phiên Tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra đã có lời khai của người tham gia tố tụng này xét thấy sự vắng mặt của người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan vụ án hay gây cản trở cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[3] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Trần Duy T đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng thu giữ,.. và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 31/07/2024 đến ngày 02/08/2024, tại xóm L, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Trần Duy T (Có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản), đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

  • Khoảng 23 giờ ngày 31/7/2024, Trần Duy T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 cuộn dây điện của anh Trần Ngọc T1 có trị giá 289.000 đồng.
  • Khoảng 20 giờ ngày 01/8/2024, Trần Duy T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 cuộn dây điện của anh Trần Ngọc T1 có trị giá 297.500 đồng
  • Khoảng 16 giờ ngày 02/8/2024, Trần Duy T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc máy cắt kim loại cầm tay của anh Trần Ngọc T1 có trị giá 200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Trần Duy T trộm cắp là 786.500 đồng.

Tổng giá trị tài sản trộm cắp của bị cáo T có giá trị thấp hơn 2.000.000đ nhưng bị cáo có tiền án vào ngày 15/10/2022 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số: 07/2023/HSST ngày 23/02/2023. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 06/02/2024.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Duy T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...”

[4] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Duy T:

[4.1] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương.

[4.2] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo T có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi bản thân. Trong vụ án này, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại anh Trần Ngọc T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần xác định đây là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4.3] Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự có tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo có nhân thân xấu, có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi đã nhiều lần bị xét xử nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Cần thiết xử phạt bị cáo bằng hình phạt phạt tù, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo bị cáo T từ 15 đến 18 tháng tù là có căn cứ. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đến tính chất của vụ án, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, số khung: RLHJA3817GY141367, số máy: JA38E0304372, có gắn biển kiểm soát 20B1- 494.51 Chiếc xe này là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra khoảng tháng 3 năm 2022 tại Tổ dân phố H, phường H, thành phố P, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã chuyển nguồn tin và chiếc xe mô tô đến cơ quan CSĐT Công an thành phố P giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
  • 01 chiếc máy cắt cầm tay nhãn hiệu Dongcheng ký hiệu DSM 02, màu xanh, máy đã qua sử dụng; 01 cuộn dây đồng có trọng lượng là 1,7kg (Do chị Hoàng Thị Khánh H1 giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 cuộn dây đồng và 01 chiếc máy cắt cầm tay cho anh Trần Ngọc T1 là chủ sở hữu quản lý sử dụng.
  • Đối với 01 cuộn dây đồng, T đã bán cho chị Dương Thị H2, chị H2 sau đó đã bán cho người khác (Không xác định được) nên không thu giữ được. Đối với số vỏ dây điện T và C khai đã vứt tại khu vực cầu K thuộc xã Y, huyện P, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
  • Số tiền 300.000 đồng tiền do bị cáo bán chiếc máy cắt cho chị H1 mà có. Chị H1 yêu cầu trả lại số tiền này. Cần thiết trả chị H1 số tiền 300.000đ.
  • Đối với số tiền 200.000đ là tiền bán dây điện cho chị H2, bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết. Xác định đây là số tiền do phạm tội mà có cần thiết truy thu bị cáo T số tiền 200.000đ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông V đề nghị được hoàn trả cho ông số tiền mua dây điện 250.000đ. Tại phiên Toà bị cáo xác định số tiền 250.000₫ bị cáo đã sử dụng 150.000đ, C cầm 100.000₫ nhưng sau đó C đưa lại cho bị cáo thêm 100.000đ này. Tổng số tiền bị cáo đã sử dụng là 250.000đ. Bị cáo T nhất trí trả ông V 250.000đ. Cần thiết buộc bị cáo T có trách nhiệm bồi thường cho ông V số tiền bán dây điện 250.000đ.

[7]Về vấn đề khác:

Đối với Dương Văn C là người đã cùng bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần Ngọc T1, tổng giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng. Về nhân thân, C chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của C không cấu thành tội phạm. Công an huyện Đ đã xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với chị Dương Thị H2, chị Hoàng Thị Khánh H1 và ông Vũ Văn V là những người đã mua cuộn dây đồng, máy cắt kim loại cầm tay của T và C. Do khi mua chị H2, chị H1 và ông V không biết đây là tài sản do T lấy trộm mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.

Trong vụ án này bị cáo T còn khai nhận buổi tối ngày 02/8/2024, T có đi đến khu vực xã Y, huyện P và mua 100.000 đồng tiền ma tuý, do T không xác định được cụ thể người đã bán ma tuý cho mình và số ma tuý T mua đã sử dụng hết nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ.

[8] Về án phí: Bị cáo T bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Các Điều 106, 136; Điều 326; Điều 331 và 333; Điều 299, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí, Lệ phí;Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt:

    - Bị cáo Trần Duy T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/08/2024.

    * Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Trần Duy T.

  2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Duy T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Trả chị Hoàng Thị Khánh H1 số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Theo giấy uỷ nhiệm chi ký hiệu C4-02a/KB số 35 ngày 30 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Hoá.

    Truy thu bị cáo Trần Duy T số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) sung quỹ nhà nước.

  4. Về phần trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo T trả cho ông Vũ Văn V số tiền 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Định Hoá;
  • - Công an huyện Định Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Phú Tiến, ĐH.
  • (kèm TB Kq XX);
  • - THA HS, DS;
  • - Lưu: H.sơ, H.sự, VT

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Thị Thu Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T trộm cắp tài sản của anh Trần Ngọc Tr
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger