|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/DS - PT Ngày: 09/5/2024 V/v: T/c Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và ông Hoàng Quý Sửu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 162/2023/TLPT- DS ngày 27/12/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS - ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Phan Văn H, sinh năm 1985 (có mặt);
Trú tại: Xóm T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Bình D, Luật sư – Văn phòng luật sư Dương Tuấn G – Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số A, ngõ E, đường X, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Bị đơn: Chị Vũ Thị Tuyết M, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Anh Lý Văn Đ, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký tạm trú: Căn hộ P1 – 0612 tòa P, chung cư M, phường P, quận N, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Bùi Doãn S, sinh năm 1971. Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (ngày 08/4/2024 có văn bản từ chối nhận ủy quyền)
2
Người làm chứng: Anh Chử Văn H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Phan Văn H trình bày: Anh (H) là cháu họ của anh Lý Văn Đ, do tin tưởng lên đã nhiều lần cho vợ chồng anh Lý Văn Đ, chị Vũ Thị Tuyết M vay tiền với mục đích kinh doanh, buôn bán xe. Từ ngày 14/6/2021 đến ngày 11/7/2021, anh đã 16 lần chuyển tiền từ tài khoản của anh số [...] tại ngân hàng thương mại cổ phần B chi nhánh T (phòng G1) đến số tài khoản 046136960001 mang tên Vũ Thị Tuyết M tại ngân hàng thương mại cổ phần B chi nhánh T (phòng G1) với tổng số tiền 1.500.000.000đồng. Chị M cũng đã chuyển trả cho anh được 9 lần, với tổng số tiền 1.200.000.000đồng, còn nợ 300.000.000 đồng chưa trả.
Ngày 13/6/2021, anh Lý Văn Đ có nhắn tin qua tài khoản zalo, nhờ chuyển số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản của anh Chử Văn H2, anh Đ đã xác nhận qua tin nhắn zalo nhưng đến nay chưa trả. Anh đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin qua zalo của anh Đ và chị M yêu cầu trả tiền, anh Đ và chị M chỉ hứa mà không trả tiền cho anh. Nay anh khởi kiện, yêu cầu chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ phải liên đới cùng có trách nhiệm trả cho anh số tiền vay gốc còn nợ là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), không yêu cầu trả lãi.
Bị đơn chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Chị Vũ Thị Tuyết M có vay anh Phan Văn H nhiều lần bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng với tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng để làm ăn như anh H trình bày là đúng. Chị đã nhiều lần chuyển khoản trả tiền cho anh H, đến nay còn nợ số tiền 300.000.000đ. Chị xác định, các khoản vay này đều là khoản vay cá nhân chị, không liên quan gì đến anh Lý Văn Đ (chồng chị), nay chị nhất trí trả khoản tiền này cho anh H. Còn đối với khoản vay 200.000.000đồng của anh Đ, chị không biết nên không đồng ý trả.
Anh Lý Văn Đ thừa nhận việc anh yêu cầu H chuyển khoản cho Hiệu 200.000.000đồng là đúng, tuy nhiên ngay sau đó anh đã trả cho H khoản tiền này bằng tiền mặt (nhưng anh không có chứng cứ để xuất trình), nên anh không còn nợ H khoản tiền nào. Đối với số tiền chị M vay anh H, anh không biết, do vậy không đồng ý trả theo yêu cầu khởi kiện của anh H.
Với nội dung nêu trên, tại bản án dân sự số 14/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa đã xét xử và quyết định: Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn H về việc yêu cầu chị Vũ Thị Tuyết M, anh Lý Văn Đ trả nợ.
3
Buộc chị Vũ Thị Tuyết M phải có trách nhiệm trả cho anh Phan Văn H số tiền nợ gốc 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng).
Buộc anh Lý Văn Đ phải có trách nhiệm trả cho anh Phan Văn H số tiền nợ gốc 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Vũ Thị Tuyết M phải chịu 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách nhà nước.
- Anh Lý Văn Đ phải chịu 12.000.000đồng (Mười hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách nhà nước.
Hoàn trả cho anh Phan Văn H 12.000.000đồng (Mười hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004608 ngày 28/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/11/2023 (dấu công văn Tòa án ngày 05/12/2023) nguyên đơn anh Phan Văn H kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, với các lý do:
- (+) Tòa án sơ thẩm xác định khoản nợ không đúng: Anh Lý Văn Đ và chị Vũ Thị Tuyết M Đây là vợ chồng. Do vậy khi anh Đ hoặc chị M vay nợ thì khoản nợ được xác định là khoản vay chung của vợ chồng theo Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình... Tòa án phân chia khoản nợ chung thành khoản nợ riêng của từng người là không đúng;
- (+) Xác định chưa đúng căn cứ, chứng cứ: Tòa án cho rằng chị M, anh Đ vay riêng nên nghĩa vụ trả nợ riêng. Tuy nhiên khoản vay trên là rất lớn trong thời kỳ hôn nhân, không có lý do gì họ không biết...ngay từ đầu anh Đ và chị M đã cùng nhau xuống tận nhà anh H để vay tiền, thể hiện rằng cả hai đều thống nhất về mặt ý trí, nên sau đó ai là người liên hệ vay tiền không phải là căn cứ để xác định đó là vay riêng;
- (+) Bản sao kê của ngân hàng cụ thể....thể hiện khi chuyển tiền ghi rõ nội dung “cháu cho chú thím Đông Mai vay”;
4
- (+) Tài khoản zalo của anh Đ có các tin nhắn số 0978626333 là cơ sở pháp lý đánh giá việc vay chung...
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền sửa đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định khoản nợ 300.000.000₫ là nợ chung của vợ chồng anh Lý Văn Đ và chị Vũ Thị Tuyết M và buộc cùng liên đới chịu trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng cho anh H.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự, còn Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70.
- + Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Phan Văn H làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm là kháng cáo hợp lệ.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm ông Bùi Doãn S có đơn từ chối làm người đại diện theo ủy quyền của các bị đơn Vũ Thị Tuyết M, Lý Văn Đ. Chị M và anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên vụ án được tiếp tục xét xử theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Chị Vũ Thị Tuyết M thừa nhận có vay tiền của anh Phan Văn H nhiều lần, bằng hình thức chuyển khoản qua Ngân hàng, chị đã trả được một phần hiện còn nợ lại số tiền 300.000.000₫ và đồng ý trả khoản tiền này cho anh H. Lời thừa nhận này của chị M phù hợp với lời khai của nguyên đơn anh Phạm Văn H3.
[2.2.] Chị M cho rằng số tiền chị vay anh H3 là để làm ăn riêng, không liên quan gì đến chồng chị anh Lý Văn Đ. Lời khai này của chị M không có căn cứ chấp nhận vì theo tin nhắn zalo của chị M, anh Đ và lời trình bày của các đương sự có đủ căn cứ xác định: Các khoản vay của chị M với anh H3 từ ngày 14/6/2021 đến ngày 11/7/2021 là khoản vay nhằm mục đích làm ăn kinh doanh chung của vợ chồng chị M và anh Đ. Khi hỏi vay tiền của H3, cả chị M và anh Đ đều biết và có chung ý trí với nhau, nên phải xác định khoản tiền nợ còn lại
5
300.000.000đ là khoản nợ chung của chị M và anh Đ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định khoản vay này là vay riêng của chị M là không chính xác, không đúng bản chất sự việc và không phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần phải xác định khoản nợ 300.000.000đ còn lại là nợ chung của vợ chồng và buộc anh Đ có trách nhiệm liên đới cùng chị M trả khoản nợ này cho anh H3. Kháng cáo của anh H3 về nội dung này là có căn cứ chấp nhận.
[2.3.] Đối với số tiền 200.000.000 mà anh Đ vay của H3 thông qua việc yêu cầu chuyển khoản cho anh H2, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá và xác định đây là khoản nợ cá nhân của anh Đ, không phải là nợ chung của vợ chồng và buộc một mình anh Đ phải trả cho anh H3 là có căn cứ.
[2.4.] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS - ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên về trách nhiệm trả nợ chung đối với khoản nợ 300.000.000₫.
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147, Điều148 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[3.1.] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa phần trách nhiệm trả nợ chung, nên buộc anh Lý Văn Đ và chị Vũ Thị Tuyết M phải chịu 15.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; anh Lý Văn Đ phải chịu 10.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách nhà nước.
+ Hoàn trả cho anh Phan Văn H 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004608 ngày 28/6/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
[3.2.] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0006172 ngày 06/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
[4] Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
6
Chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể:
Áp dụng các Điều 463; 466; 357; 468 Bộ luật Dân sự; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn là chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ.
- Buộc chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ phải liên đới có trách nhiệm trả cho anh Phan Văn H số tiền nợ gốc 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng). Không phải trả tiền lãi do anh H không yêu cầu.
- Buộc anh Lý Văn Đ phải có trách nhiệm trả cho anh Phan Văn H số tiền nợ gốc 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng). Không phải trả tiền lãi do anh H không yêu cầu.
- Anh Phan Văn H được nhận số tiền nợ gốc 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng) do chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ trả và số tiền nợ gốc 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng) do anh Lý Văn Đ trả.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định theo khoản 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự nếu không có thỏa thuận khác.
- Về án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị Tuyết M và anh Lý Văn Đ phải liên đới chịu 15.000.000đồng (Mười năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; anh Lý Văn Đ phải chịu 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nộp vào ngân sách nhà nước.
+ Hoàn trả cho anh Phan Văn H 12.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004608 ngày 28/6/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Án phí phúc thẩm: Anh Phan Văn H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0006172 ngày 06/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Văn Quế |
Hoàng Quý Sửu |
Nguyễn Thị Thuỷ |
8
Bản án số 63/2024/DS - PT ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 63/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn H, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
