TAND HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HSST Ngày: 08/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chữ
Ông Nguyễn Xuân Đồng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô; Trình độ văn hoá 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Chu Văn Đ1, sinh năm 1975; Con bà: Đào Thị M, sinh năm 1976; Vợ, con: chưa có.
Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại ở nơi cư trú (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đặng Văn K, sinh năm 1994 (vắng mặt)
- Chị Hà Thị N, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Văn Đ, sinh năm 1998 trú tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 19/12/2016, tuy nhiên do Đ muốn có bằng lái xe ô tô tải (hạng C) để có thể điều khiển xe ô tô có tải trọng lớn hơn, nên Đ đã nảy sinh ý định mua giấy phép lái xe giả để sử dụng, nhằm tránh sự phát hiện và xử lý của cơ quan chức năng. Thực hiện ý định trên, Đ đã lên mạng xã hội Facebook thấy có người đăng bài thi và sát hạch hộ giấy phép lái xe (Đ không nhớ mạng Facebook nào). Đ đã gửi thông tin gồm: Thẻ căn cước công dân, ảnh chân dung đến tài khoản Facebook đã đăng bài thi để làm giấy phép lái xe ô tô hạng c, nhưng không phải học, không phải thi. Đến tháng 03/2022 Đ nhận được một bưu phẩm do người giao hàng đến (Đ không biết người giao hàng là ai), sau khi nhận, kiểm tra bưu phẩm Đ nhận được 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] có tên Chu Văn Đ có thông tin và dán ảnh của Đ trên giấy phép lái xe do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 10/6/2021, kèm theo 01 bộ hồ sơ sát hạch, Đ thanh toán số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho nhân viên giao hàng. Sau khi có giấy phép lái xe hạng C, ngày 05/9/2022 Đ đã sử dụng giấy phép lái xe trên để điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C- 20482 lưu trên Tỉnh lộ 290, khi đi đến km 0 + 750 thuộc địa phận xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện L yêu cầu dừng xe ô tô để kiểm tra, xe có dấu hiệu vi phạm, qua đó phát hiện xe ô tô do Đ điều khiển có lắp thêm đèn phía trước xe trái với thiết kế, Đ xuất trình giấy phép lái xe hạng C nêu trên. Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, đồng thời tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Chu Văn Đ.
Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L đã tiến hành đối chiếu lại hồ sơ gốc và tiến hành làm việc với Sở G để tra cứu, xác minh giấy phép lái xe trên xác định: Không có thông tin giấy phép lái xe hạng C số 24216325982 do Sở G cấp ngày 10/6/2021, có giá trị đến 10/6/2026 mang tên Chu Văn Đ, sinh năm 1998 trú tại: xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 13/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành trưng cầu giám định đối với giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Chu Văn Đ. Tại Bản Kết luận giám định số 1990 ngày 19/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 10/6/2021 mang tên Chu Văn Đ là giả.
Ngày 08/11/2023, Chu Văn Đ giao nộp 01 bộ hồ sơ giấy phép lái xe Đ đã mua trên mạng facebook gồm: 01 chứng chỉ sơ cấp mang tên Chu Văn Đ do Trung tâm Đ2 phòng cháy chữa cháy cấp (có dấu và chữ ký của Phó hiệu trưởng); Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, trên biên bản có chữ ký và dấu tròn đỏ có nội dung “TRUNG TÂM DẠY NGHỀ ĐÀO TẠO VÀ SÁT HẠCH LÁI XE”; Biên bản sát hạch thực hành, sát hạch lý thuyết. Ngày 29/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định các tài liệu trên để xác định đó là hồ sơ, chứng chỉ thật hay giả. Ngày 11/01/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Các tài liệu trên được làm bằng phương pháp in phun màu như vậy là giả.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Chu Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKS-LNg ngày 12 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Chu Văn Đ về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1, 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chu Văn Đại t 06 đến 09 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.
Về vật chứng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Chu Văn Đ.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Chu Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng tháng 3/2022, Chu Văn Đ, sinh năm 1998 trú tại thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã sử dụng 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] cùng các giấy tờ hồ sơ giả để điều khiển xe ô tô trái quy định. Ngày 05/9/2022, Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C- 20482 di chuyển trên đường T, khi đi đến km 0 + 750 thuộc địa phận xã H, huyện L thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện L kiểm tra, Đ xuất trình giấy phép lái xe ô tô giả trên, thì bị Công an thu giữ. Phòng K1 Công an tỉnh B xác định Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 10/6/2021 mang tên Chu Văn Đ là giả .”
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ Luật hình sự;
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức nhà nước, cụ thể là hoạt động trao đổi, giao dịch của các cá nhân, tổ chức. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[6] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nhân thân tốt. Do vậy không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[7] Đối với người đăng trên mạng xã hội Facebook làm giấy phép lái xe hoặc cơ sở làm giấy phép lái xe ô tô hạng C cho Chu Văn Đ và làm giấy phép lái xe mô tô giả cho bà Hà Thị N và Đặng Văn K. Quá trình điều tra, xác định Chu Văn Đ; Hà Thị N và Đặng Văn K điều không biết người đó là ai, cơ sở, địa chỉ nào, do đó không có căn cứ để xử lý.
[8] Đối với bà Hà Thị N, sinh năm 1973 trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Đặng Văn K, sinh năm 1994 trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L xác minh cùng với giấy phép lái xe ô tô giả của Chu Văn Đ còn xác định N và K cũng có sử dụng bằng lái xe mô tô hạng A1 khi tham gia giao thông. Theo Kết luận giám định Phòng K1 Công an tỉnh B giấy phép lái xe mô tô của cả Năm và K đều là giả. Tuy nhiên xét tính chất, mức độ, hậu quả không nguy hiểm lớn cho xã hội, số lượng giấy tờ ít chỉ 01 giấy phép duy nhất, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L căn cứ khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự không xử lý về hình sự đối với N và K là có căn cứ. Cơ quan điều tra đã tách tài các tài liệu liên quan đến Năm và K chuyển đến Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L xử lý hành chính theo quy định là phù hợp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[9] Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Chu Văn Đ là giấy tờ giả không có giá trị sử dụng, liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Chu Văn Đ 07 (bẩy) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Chu Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về vật chứng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Chu Văn Đ.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Chu Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Văn Thể |
Bản án số 63/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn Đ sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
