|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-6-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Bà Ngô Thị Lệ Nga.
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tháng 5 và 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 134/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 01/01/1996; Có đơn xin vắng mặt.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1995; Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2024, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 06/5/2024 và trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
Chị và anh B cưới nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 29/5/2020. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 11/7/2020. Đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, chung sống không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Chị và anh B không còn sống chung từ tháng 7 năm 2023 cho đến nay. Từ lúc không sống chung thì vợ chồng không có gặp nhau để hàn gắn được tình cảm. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh B. Về nuôi con chung: Con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống ổn định với anh B từ lúc vợ chồng không còn sống chung cho đến nay và được anh B nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nên chị tự nguyện thống nhất giao con chung cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng, chị không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị và anh B chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị và anh B chung sống không có thiếu nợ ai, cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh B không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Văn B. Về con chung: Con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống ổn định với anh B từ lúc vợ chồng không còn sống chung cho đến nay và được anh B nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và chị D cũng tự nguyện thống nhất giao con chung cho anh B được tiếp tục nuôi dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chưa có yêu cầu nên chưa xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết, còn anh B không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [3] Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Lê Văn B được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét, yêu cầu của chị D là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống giữa chị D và anh B có phát sinh mâu thuẫn gia đình. Chị D và anh B đã không còn sống chung, hiện tại vẫn không hàn gắn được. Tòa án đã triệu tập anh B để hòa giải và xét xử theo quy định nhưng anh B vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị D và anh B không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh B là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- [4] Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 11/7/2020 hiện đang sống ổn định với anh B từ lúc vợ chồng không còn sống chung cho đến nay và được anh B nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và chị D cũng tự nguyện thống nhất giao con chung cho anh B được tiếp tục nuôi dưỡng nên chấp nhận giao con chung là cháu N cho anh B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng, chưa có yêu cầu nên chưa xem xét.
- [5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét.
- [6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
- [7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Văn B.
- Về việc nuôi con chung: Anh B được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Bảo N, sinh ngày 11/7/2020.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004719 ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Tấn Dũng Ngô Thị Lệ Nga |
Đặng Quốc Bình |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND tỉnh Đồng Tháp;
- - VKSND huyện Hồng Ngự;
- - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (nếu có);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đặng Quốc Bình |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D. Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Lê Văn B.
