Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 63/2024/HSST

Ngày 06/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga;
  • Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan;
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 20/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 254/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn T, sinh năm 1965, tại Bình Định; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khu phố E, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Y (đã mất) và bà Đỗ Thị T1 (đã mất); Có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; có 04 con lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
  2. Vũ Thị L, sinh năm 1988, tại Lào Cai; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: khu phố E, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn B (đã mất) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1954; có chồng tên Lìn Tiến T2, sinh năm 1984, có 02 con sinh năm 2008 và 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại - Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Kim N1, sinh năm 1999 - vắng mặt;

Địa chỉ: khu phố E, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai;

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Đức D, sinh năm 1954 - vắng mặt;
  2. Địa chỉ: khu phố E, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai;

  3. Lê Thị Hồng T3, sinh năm 1994 - vắng mặt;
  4. Địa chỉ: khu phố E, Thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T làm nghề bán vé số tại quầy bên lề đường ở khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Khoảng đầu tháng 12/2023, T đánh bạc hình thức số đề bằng cách ghi các con số vào tờ giấy (gọi là phơi đề) hoặc nhận tin nhắn qua điện thoại di động N2 230 gắn sim số 0913.690.238. Sau đó T sử dụng điện thoại di động S A31 sao chụp lưu giữ phơi đề làm căn cứ xác định thắng thua với những người tham gia ghi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B và các tỉnh miền N mở thưởng vào cuối giờ chiều hàng ngày.

Cách thức đánh bạc ghi đề như sau: Trước khi có kết quả xổ số kiến thiết trong ngày mở, người mua đề lựa chọn con số theo ý thích và đặt cược tiền số đã chọn để so sánh với các con số trên lô xổ số khi mở thưởng. Người bán đề ghi các con số, số tiền của người mua đã chọn vào phơi đề hoặc nhắn tin trả lời ok để xác nhận, đồng thời tổng hợp vào phơi tổng để đối chiếu kết quả. Khi kết quả sổ xố kiết thiết trong ngày mở, nếu các con số của người mua đề trùng các con số trên các lô xổ số thì người mua đề thắng bạc, người bán đề trả tiền cho người mua đề. Ngược lại thì người mua đề thua bạc với số tiền sử dụng để ghi số đề. Mức độ ăn thua được tính theo các hình thức: Đầu, đuôi, kéo đuôi tức là mua hai số trùng với hai số ở giải tám hoặc hai số cuối của giải đặc biệt thì tỷ lệ thắng bạc là 01 ăn 70 lần; bao lô 02 số tức là mua 02 con số bất kỳ nếu trùng với 02 con số cuối của tất cả các giải thì thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 70 lần; bao lô 03 số tỷ lệ thắng bạc 01 ăn 600 lần; bao lô 04 số thì tỷ lệ thắng bạc là 01 ăn 700 lần; số đá tức là mua ít nhất 02 cặp số nếu trùng với 02 số cuối của tất cả các giải thì thắng bạc tỷ lệ 01 ăn 700 lần.

Ngày 04/01/2024, Vũ Thị L sử dụng điện thoại di động Samsung S10+ gắn sim số 0974.034.857 nhắn tin vào số điện thoại 0913.690.xxx của T mua các số đề: 73 bao lô 100.000 đồng, 37 bao lô 50.000 đồng theo kết quả xổ số kiến thiết miền B, với số tiền đánh bạc là 3.300.000 đồng. Ngoài ra, T còn nhận ghi đề cho một số người (không rõ họ tên địa chỉ) theo kết quả xổ số kiến thiết miền B với số tiền đánh bạc là 3.730.000 đồng. Tổng số tiền T ghi đề trong ngày 04/01/2024 là 7.030.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng lúc 18 giờ ngày 04/01/2024, những người ghi đề của T thắng bạc 10.150.000 đồng, trong đó L trúng đề bao lô 73 với số tiền 7.000.000 đồng, người mua số đề khác trúng 3.150.000 đồng. T đã hoàn thành việc thanh toán tiền thắng bạc sau khi có kết quả xổ số. Như vậy số tiền tham gia đánh bạc trong ngày 04/01/2024 của Vũ Thị L là 10.330.000 đồng; của Lê Văn T là 17.180.000 đồng.

Ngày 09/01/2024, Lê Văn T bán số đề theo kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre) cho những người tham gia đánh bạc gồm: Vũ Thị L, Nguyễn Đức D - sinh năm 1954, Lê Thị Hồng T3 - sinh năm 1994 cùng ngụ tại khu phố E, thị trấn V, huyện V và một số người khác (không rõ họ tên địa chỉ) với số tiền là 10.225.000 đồng. T thu được 7.500.000 đồng tiền bán số đề, (trong đó tiền tham gia đánh bạc của D, L và T3 là 2.240.000 đồng), số tiền 2.725.000 người mua đề còn nợ T. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N mở thưởng lúc 16 giờ 15 phút ngày 09/01/2024, Nguyễn Đức D trúng đề bao lô 83 với số tiền thắng bạc 350.000 đồng; người ghi đề khác trúng bao lô 83 với số tiền thắng bạc 700.000 đồng. Tổng số tiền Lê Văn T tham gia đánh bạc ngày 09/01/2024 với Vũ Thị L, Nguyễn Đức D, Lê Thị Hồng T3 và một số người khác là 11.275.000 đồng.

Đến 16 giờ 35 phút ngày 09/01/2024, Lê Văn T đang tổng hợp phơi đề để tính tiền thắng thua với những người tham gia đánh bạc, thì bị Công an huyện V phối hợp Công an thị trấn V kiểm tra phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 10/01/2024, Vũ Thị L biết hành vi đánh bạc bị phát hiện nên đến Công an thị trấn V đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Công an lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tang vật, tài sản thu giữ:

  • - Tạm giữ của Lê Văn T: 7.500.000 đồng thu trong túi quần T đang mặc (tiền đánh bạc); 304.000 đồng tại quầy bán nước (không liên quan đến việc đánh bạc); 01 xe mô tô Honda Vision biển số 65H1-489.51 bên trong cốp có 600.000 đồng (không liên quan đến đánh bạc); 01 tờ phơi đề ghi ngày 09/01/2024; 01 điện thoại di động S A31 và 01 điện thoại di động N2 (dùng vào việc đánh bạc); 01 điện thoại di động S (không liên quan đến việc đánh bạc).
  • - Tạm giữ của Vũ Thị L: 01 điện thoại di động Samsung S10+ (dùng vào việc đánh bạc).

Kết quả điều tra xác định nguồn gốc xe mô tô biển số 65H1-489.51 do chị Phạm Thị Kim N1 - sinh năm 1999 ngụ tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ đứng tên chứng nhận đăng ký (chị N1 ở trọ nên gửi xe tại nhà T). Ngày 09/01/2024, chị N1 không biết T điều khiển xe mô tô bán số đề.

* Xử lý tang vật, tài sản tạm giữ:

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả: 01 điện thoại di động S A05 cho Lê Văn T; 01 xe mô tô biển số 65H1489.51 cho Phạm Thị Kim N1.

* Tại Bản Cáo trạng số 54/CT-VKSVC ngày 19 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố các bị cáo Lê Văn T, Vũ Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như sau:

  • * Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Lê Văn T. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Vũ Thị L.
  • * Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo Lê Văn T; bị cáo Vũ Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

  • - Bị cáo Lê Văn T mức án từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng;
  • - Bị cáo Vũ Thị L mức án từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng;
  • * Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
  • * Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào ngày 04/01/2024, tại khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn T trực tiếp đánh bạc hình thức ghi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B với Vũ Thị L và một số người khác không rõ tên địa chỉ, với tổng số tiền đánh bạc của Lê Văn T là 17.180.000 đồng. Vũ Thị L tham gia đánh bạc với số tiền là 10.330.000 đồng.

Ngày 09/01/2024, tại khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn T trực tiếp đánh bạc hình thức ghi đề dựa vào kết quả xố số kiến thiết các tỉnh miền N với Nguyễn Đức D, Vũ Thị L, Lê Thị Hồng T3 và một số người khác không rõ tên địa chỉ, với tổng số tiền đánh bạc là 11.275.000 đồng.

Lê Văn T là người thầu đề, trực tiếp đánh bạc vai trò thực hành.

Vũ Thị L đánh bạc với Lê Văn T, đồng phạm vai trò thực hành.

Hành vi của các bị cáo T và L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố các bị cáo Lê Văn T, Vũ Thị L về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Đức D, Lê Thị Hồng T3, Vũ Thị L có hành vi đánh bạc ngày 09/01/2024 nhưng chưa đủ định lượng xử lý hình sự, Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với những người (không rõ họ tên, địa chỉ) tham gia đánh bạc với Lê Văn T hiện chưa làm việc được, yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh xử lý theo quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Đối với bị cáo T: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Đối với bị cáo L: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã nêu trên, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, cụ thể:

Bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, đồng thời ấn định mức phạt bổ sung đối với bị cáo là cũng đủ để cải tạo, răn đe đối với bị cáo.

Đối với bị cáo L: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền là cũng đủ để cải tạo, răn đe đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
    • + Số tiền 7.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A31; 01 điện thoại di động Nokia 230 của Lê Văn T;
    • + 01 điện thoại di động Samsung S10+ của Vũ Thị L.
  • - Buộc Lê Văn T giao nộp 8.080.000 đồng (gồm 7.030.000 đồng tiền bán số đề ngày 04/01/2024 và 1.050.000 đồng tiền trúng đề ngày 09/01/2024); Vũ Thị L giao nộp 7.000.000 đồng tiền trúng đề ngày 04/01/2024 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 904.000 đồng của bị cáo Lê Văn T để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 tờ phơi đề ghi ngày 09/01/2024 lưu vào hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (đối với bị cáo Lê Văn T);

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Vũ Thị L);

- Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Vũ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Lê Văn T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 15.000.000 đồng.
  • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
  • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Xử phạt bị cáo Vũ Thị L số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
    • + Số tiền 7.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A31; 01 điện thoại di động Nokia 230 của Lê Văn T;
    • + 01 điện thoại di động Samsung S10+ của Vũ Thị L.
  • - Buộc Lê Văn T giao nộp 8.080.000 đồng (gồm 7.030.000 đồng tiền bán số đề ngày 04/01/2024 và 1.050.000 đồng tiền trúng đề ngày 09/01/2024); Vũ Thị L giao nộp 7.000.000 đồng tiền trúng đề ngày 04/01/2024 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 7.934.000 đồng của bị cáo Lê Văn T để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 tờ phơi đề ghi ngày 09/01/2024 lưu vào hồ sơ vụ án.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 3 năm 2024 và Biên lai thu tiền số 0004312 ngày 19 tháng 3 năm 2023 và số 0004272 ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).

4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan THAHS - Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HSST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 63/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thành + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger