|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HS-ST |
Ngày 05/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Toà án nhân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tăng Thị H – sinh năm 1993; Nơi cư trú: KDC Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Tăng Văn T và bà Đàm Thị L; có chồng và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Bị hại: Bảo hiểm xã hội tỉnh H; Địa chỉ: Số G đường T, phường Q, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị H1- Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh H; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lương Thị Thu H2- Trưởng phòng thanh tra- kiểm tra thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Chị Trần Thị Thanh L1, sinh năm 1987; Công ty TNHH S (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tăng Thị H là công nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn S1, địa chỉ: phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, tham gia đóng bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội tỉnh H từ tháng 7/2011 đến tháng 9/2012, H nghỉ việc, không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội. Tháng 3/2013, H ký Hợp đồng lao động với Công ty TNHH S (Công ty S), địa chỉ: K, Quốc lộ E, phường B, thành phố H và tiếp tục đóng bảo hiểm tại BHXH tỉnh H. Đầu tháng 7/2014, H có thai, sức khỏe yếu nên tự ý nghỉ việc mà không có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty. Công ty S chốt thời gian H chấm dứt hợp đồng lao động tại công ty vào ngày 12/7/2014 và thông báo với bảo hiểm xã hội tỉnh H việc H không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6/2014. Sau khi nghỉ việc tại Công ty S, H tìm hiểu và được biết, do không tiếp tục đóng bảo hiểm nên không được hưởng tiền Bảo hiểm xã hội chế độ thai sản theo quy định. Để được hưởng chế độ thai sản, H nhờ Trần Thị Thanh L1 là nhân viên phòng hành chính nhân sự, phụ trách bảo hiểm của Công ty S tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội cho H tại công ty S từ tháng 7/2014, chị L1 đồng ý và yêu cầu H đóng 100% tiền bảo hiểm gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, H đưa trực tiếp cho L1 6.500.000 đồng. Ngày 17/3/2015 H sinh con (Nguyễn Duy K), cung cấp cho L1 giấy khai sinh, giấy chứng sinh của cháu K cùng tài khoản ngân hàng số 711A48335119 của H để L1 làm thủ tục đề nghị Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương thanh toán tiền bảo hiểm xã hội chế độ thai sản. Ngày 28/8/2015, H được Bảo hiểm xã hội tỉnh H chi trả 17.720.000 đồng tiền bảo hiểm xã hội. H đã rút tiền và sử dụng chi tiêu cá nhân. Tháng 01/2019, do không có nhu cầu tham gia Bảo hiểm xã hội nữa nên H làm thủ tục đề nghị được hưởng Bảo hiểm xã hội một lần, được bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương thanh toán số tiền 13.534.428 đồng.
Tại văn bản số 681 ngày 12/5/2020 của Bảo hiểm xã hội tỉnh H xác định: Thời gian hưởng đúng quy định từ tháng 7/2011 đến tháng 9/2012 và từ tháng 10/2013 đến tháng 6/2014 là 02 năm 07 tháng số tiền hưởng đúng quy định là 10.721.130 đồng; thời gian hưởng sai quy định từ tháng 7/2014 đến tháng 11/2014 và từ tháng 2/2015 đến tháng 7/2015, số tiền hưởng sai phải thu hồi là 2.813.298 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/01/2019, H nộp 17.720.000đồng cho Cơ quan điều tra để trả lại cho Bảo hiểm xã hội tỉnh H. Ngày 25/4/2024, H nộp cho Bảo hiểm xã hội tỉnh H 2.813.298đ. Đến nay Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương không yêu cầu về bồi thường dân sự.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKS-P1 ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Tăng Thị H về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Đại diện của bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về hành vi: Lời khai của bị cáo H tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Từ tháng 7/2014 đến tháng 11/2014, H không làm việc và không đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S nhưng đã nhờ Trần Thị Thanh L1 giúp H đóng bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương thông qua Công ty TNHH S na để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sau khi sinh con. Ngày 28/8/2015, H được Bảo hiểm xã hội tỉnh H chi trả bảo hiểm xã hội chế độ thai sản số tiền 17.720.000 đồng.
[3] Về tội danh: Bị cáo H đã nghỉ việc tại Công ty TNHH S từ tháng 7/2014 và không còn thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội theo quy định. Sau đó, bị cáo H vẫn nhờ Trần Thị Thanh L1 giúp H đóng bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh H không đúng quy định với mục đích để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sau khi H sinh con, đã chiếm đoạt của Bảo hiểm xã hội tỉnh H 17.720.000đồng nên hành vi của bị cáo Tăng Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo H về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ pháp luật, đúng người đúng tội. Việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xét xử đối với bị cáo H là đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc H đã nghỉ việc tại Công ty TNHH S và không còn đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 7/2014 nhưng vẫn cố ý nhờ Trần Thị Thanh L1 đóng bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương không đúng quy định để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản là sai phạm pháp luật nhưng do vụ lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải có mức án tương xứng, phù hợp dành cho bị cáo H mới có tác dụng giáo dụng riêng và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về nhân thân: Bị cáo H là người chấp hành pháp luật, không có tiền án, tiền sự.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phạm tội; thực hiện hành vi phạm tội trong thời kỳ mang thai cháu Nguyễn Duy K; đã tự nguyện nộp số tiền khắc phục hậu quả là 17.720.000đồng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã đầu thú hành vi phạm tội của mình tại cơ quan điều tra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt:
[6.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang phải nuôi con còn nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đã khắc phục hoàn trả toàn bộ số tiền chiếm đoạt của bị hại từ năm 2019 thể hiện ý rõ ý thức ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, trong thời gian tại ngoại không có vi phạm pháp luật, bị cáo hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn đang phải nuôi con nhỏ, là lao động chính trong nhà do con lớn và chồng của bị cáo bị bệnh tật nên thấy có căn cứ xem xét cho bị cáo H được cải tạo ngoài xã hội, chấp hành thời gian thử thách theo quy định là có căn cứ theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[6.2] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, đại diện bị hại, những người liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu được xác minh trong hồ sơ vụ án và được hỏi là rõ tại phiên tòa thì thấy rằng, sau khi nhận được số tiền 17.720.000 đồng, bị cáo đã sử dụng chi tiêu cho cá nhân hết. Ngày 26/01/2019, bị cáo H đã nộp số tiền này tại Cơ quan điều tra để hoàn trả lại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương, đến nay bị hại không có yêu cầu giải quyết gì khác về dân sự nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo H bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về nội dung khác:
Trong vụ án này, đối với Trần Thị Thanh L1 đã bị TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 712/2021/HSPT ngày 24/12/2021 nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tăng Thị H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Tăng Thị H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Tăng Thị H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về hình phạt bổ sung: Không.
5. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: Buộc bị cáo Tăng Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Tuyết |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 7/2014 đến tháng 11/2014, H không làm việc và không đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH S nhưng đã nhờ Trần Thị Thanh L1 giúp H đóng bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hải Dương thông qua Công ty TNHH S na để đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sau khi sinh con. Ngày 28/8/2015, H được Bảo hiểm xã hội tỉnh H chi trả bảo hiểm xã hội chế độ thai sản số tiền 17.720.000 đồng
