Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 63/2024/HSST

Ngày 04 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Quốc Đạt - Cán bộ nghỉ hưu
  2. Ông Đặng Thiều Quang - Trưởng Phòng GD&ĐT huyện Lạng Giang

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐ-HPT ngày 20/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Thành Đ, sinh năm 2001; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn V, xã H, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: Dương Công T, sinh năm 1965 (Đã chết). Họ và tên mẹ: Đỗ Thị A, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh chị em, bản thân là con thứ 3; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Chưa có.

Tiền sự: Quyết định số 50/QĐ –XPHC ngày 10/01/2024 của Ủy ban nhân dân huyện L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 28.000.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích; Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương và tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/02/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Bị cáo Dương Thành Đ có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hà Hoàng A1, sinh ngày 06/01/2006; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 22 ngày; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Họ và tên bố: Hà Văn Đ1, sinh năm 1981; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L, sinh năm 1984; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Hà Hoàng A1 có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 1999; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Xuân C, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1981; Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Nguyễn Văn K có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh ngày 04/3/2005; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 11/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Lê Thị L1, sinh năm 1975; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Nguyễn Văn H1 có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Vũ Minh T1, sinh ngày 08/10/2005; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ dân phố Ồ, thị trấn V, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 11/12; Họ và tên bố: Vũ Đình Đ3, sinh năm 1977; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1984; Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Vũ Minh T1 có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Huỳnh Bá M, sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên bố: Huỳnh Văn Á, sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Ngô Thị T2, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ hai; Họ và tên vợ: Hoàng Thị H3, sinh năm 2004; Bị cáo có 01 con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Huỳnh Bá M có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Phùng Thị D, sinh ngày 26/7/2007; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 05 tháng 02 ngày; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: thôn L, xã X, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 11/12; Họ và tên bố: Phùng Văn H4, sinh năm 1973; Họ và tên mẹ: Phan Thị O, sinh năm 1975; Gia đình có bị cáo là con duy nhất; Bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Phùng Thị D có mặt tại phiên tòa.

  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Văn H4, sinh năm 1973; bà Phan Thị O, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn L, xã X, huyện L, Bắc Giang (ông H4 có mặt, bà O vắng mặt)
  • - Đại diện Trường cao đẳng C1: Bà Đỗ Thị H5, Phó hiệu trưởng (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Người bào chữa cho bị cáo D: bà Nguyễn Thị M1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: số 663, đường Lê Lợi, phường Dĩnh Kế, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

8. Họ và tên: Đỗ Danh P, sinh ngày 18/11/2006; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 01 tháng 10 ngày; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ dân phố Ồ, thị trấn V, huyện L, Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: Đỗ Danh T3, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 02 anh em, bản thân là con cả; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Đỗ Danh P có mặt tại phiên tòa.

  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Danh T3, sinh năm 1976; bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố Ồ, thị trấn V, huyện L, Bắc Giang (ông T3 có mặt, bà N vắng mặt)
  • - Đại diện tổ chức đoàn thanh niên UBND thị trấn Vôi: Bà Nguyễn Việt T4, Phó Bí thư ban chấp hành đoàn thị trấn V (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Người bào chữa cho bị cáo P: bà Nguyễn Thị H6 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt)

Địa chỉ: số F, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Huỳnh Văn Á, sinh năm 1974 (có mặt)
    Địa chỉ: tổ dân phố Tân Luận, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  2. Lê Thị L1, sinh năm 1975 (có mặt)
    Địa chỉ: thôn Châu, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  3. Ông Đỗ Danh T3, sinh năm 1976 (có mặt)
    Địa chỉ: tổ dân phố Ô, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Danh P, sinh ngày 18/11/2006 và Vũ Minh T1, sinh năm 2005 đều ở tổ dân phố Ồ, thị trấn V, L, Bắc Giang; Nguyễn Văn H1, sinh năm 2005, Hà Hoàng A1, sinh ngày 06/01/2006 và Trịnh Long G, sinh năm 2005 đều ở thôn C, xã T, L, Bắc Giang; Nguyễn Văn K (tên gọi khác L2), sinh năm 1999 ở thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Huỳnh Bá M, sinh năm 2002 ở tổ dân phố T, thị trấn V, L, Bắc Giang; Phùng Thị D, sinh ngày 26/7/2007 ở thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dương Thành Đ, sinh năm 2001 ở thôn V, xã H, huyện L, Bắc Giang là bạn bè với nhau và rủ nhau tối ngày 28/12/2023 ra khu vực bãi đất trống thuộc khu đô thị M, thị trấn V (sau sân vận động thị trấn V) để đốt lửa nướng cá. Khoảng 20 giờ cùng ngày, các đối tượng tập trung tại điểm hẹn và đốt lửa nướng cá. Một lúc sau, D lái xe mô tô đi mua muối để chấm hoa quả. Lúc này có một nhóm thanh niên khác điều khiển khoảng 03 xe mô tô đi qua, người ngồi sau cầm dao phóng lợn và có hành động bóp còi liên tục khiêu khích. Thấy vậy, Đ, M, K bảo mọi người “về lấy đồ đuổi chúng nó” thì Hoàng A1 hiểu ý là về nhà Hoàng A1 để lấy dao phóng lợn và kiếm (Trước đó Hoàng A1K đã tự mua sắt về nhà Hoàng A1 hàn được 02 dao phóng lợn và 03 kiếm để lúc nào cần đem đi đánh nhau) nên Hoàng A1 bảo “có dao và kiếm mới làm về lấy để tét thử”. Sau đó, H1 lái xe mô tô chở KHoàng A1, M lái xe chở Đ, P lái xe mô tô đi một mình về nhà Hoàng A1 để lấy kiếm và dao phóng lợn. Khi đi đến cầu S gần nhà Hoàng A1 thì Đ, MP đỗ ở đó chờ, còn H1 chở Hoàng A1K về nhà Hoàng A1. Khi về đến nhà Hoàng A1 thì KH1 chờ ngoài cổng. Hoàng A1 vào trong nhà lấy ra 02 dao phóng lợn và 03 kiếm tự chế rồi đưa cho K 03 kiếm rồi cùng nhau đi ra cầu S. Tại đây, K đưa cho P 01 kiếm, Hoàng A1 đưa cho Đ 01 dao phóng lợn. Sau đó cả nhóm điều khiển xe mô tô quay lại chỗ nướng cá thì T1 và G đang ngồi ở đó. Thấy mọi người cầm theo hung khí nên T1 lên lái xe kèm P, còn G ở lại. Sau đó, cả nhóm điều khiển xe mô tô và cầm theo hung khí đi từ chỗ nướng cá dọc theo đường khu đô thị P, thị trấn V (phía sau sân vận động thị trấn V) ra khu vực gần bãi rác thị trấn V để tìm nhóm thanh niên khiêu khích lúc trước. Khi vừa di chuyển thì D đi mua muối quay lại và nhìn thấy mọi người nên đi xe đuổi theo. Khi đi đến đoạn đường gần bãi rác thì cả nhóm đỗ lại để đổi xe. Lúc này, H1 điều khiển xe mô tô Exciter, màu xanh, biển kiểm soát 98K1-129.72 kèm K, K cầm 01 kiếm hướng xuống đất và cài 01 kiếm ở xe; D điều khiển xe mô tô Honda SH biển kiểm soát 98B3- 867.17 chở Hoàng A1, Hoàng A1 cầm 01 phóng lợn dơ lên cao; M điều khiển xe mô tô Wave, màu xanh, biển kiểm soát 98B3-556.97 kèm Đ, Đ cầm 01 phóng lợn hướng xuống đất; T1 điều khiển xe mô tô Wave, màu đen trắng, biển kiểm soát 98E-737.93 kèm P cầm 01 kiếm hướng xuống đất đi nhanh, hàng 2 hàng 3 đi theo đường khu đô thị P ra khu vực đường phố đi bộ bờ hồ rồi đi lên cầu vượt sang đầu cầu khu đô thị P thị trấn V để tìm nhóm thanh niên kia. Khi đi đến gần vòng xuyến cầu vượt thì Đ dùng dao phóng lợn quẹt xuống đường gây tóe lửa. Sau đó, các đối tượng tiếp tục đi qua đỉnh cầu vượt thì không thấy nhóm thanh niên kia đâu nên quay xe đi về chỗ nhóm lửa lúc trước thì thấy lực lượng Công an thị trấn Vôi tuần tra đến đó thì cả nhóm lái xe cầm theo hung khí bỏ chạy. Công an thị trấn V đã khống chế được Hoàng A1 và thu giữ tại chỗ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98B3- 867.17 (xe của K); 01 dao phóng lợn có tổng chiều dài 240cm, có cán bằng kim loại, hình trụ, đường kính 2,6cm được hàn với phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm. Công an thị trấn V đã lập biên bản sự việc và bàn giao tài liệu cùng đồ vật có liên quan đến cơ quan CSĐT - Công an huyện L thụ lý theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Dương Thành Đ, Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.

Người bào chữa cho bị cáo D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt

Người bào chữa cho bị cáo P trình bày: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố. Do hiện nay bị cáo P còn trẻ, có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các quy định có lợi, khoan hồng, nhân văn của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi xử các bị cáo với mức hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo được sớm trở về hòa nhập với xã hội và trở thành công dân sống có ích.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo D và bị cáo P đều nhất trí với trình bày của người bào chữa cho bị cáo P. Đề nghị HĐXX khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố các bị cáo Dương Thành Đ, Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thành Đ từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/02/2024.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Hoàng A1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Minh T1 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  6. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá M từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  7. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Danh P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  8. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Dương Thành Đ, Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P tại phiên tòa đã thừa nhận các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng, cụ thể:

    Khoảng 21 giờ ngày 28/12/2023, tại khu đô thị R thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Phùng Thị D, Vũ Minh T1, Nguyễn Văn H1, Hà Hoàng A1, Đỗ Danh P, Nguyễn Văn K, Dương Thành Đ, Huỳnh Bá M đã có hành vi tụ tập thành nhóm đông người, điều khiển xe mô tô, mang theo các hung khí (dao phóng lợn và kiếm) đi nhanh, lạng lách tìm đuổi nhau trên đường tại khu đô thị P, thị trấn V, huyện L gây rối trật tự công cộng; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội địa bàn thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như vật chứng đã thu hồi. Phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của các bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đã tụ tập đông người, sử dụng hung khí là dao phóng lợn và kiếm đi nhanh, lạng lách tìm đuổi nhau trên đường khu đô thị, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an ninh xã hội. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 điều 318 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo Dương Thành Đ có nhân thân xấu: Ngày 10/01/2024 bị UBND huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích; Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương và tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ;

    Các bị cáo Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P đều có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo Hà Hoàng A1 có ông là Hà Văn T5 được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, Huân chương kháng chiến;

    Bị cáo Nguyễn Văn K được Ban chấp hành đoàn trường T9 - Dược B tặng giấy khen; tích cực tham gia các phong trào tình nguyện tại địa phương đóng góp ủng hộ chương trình xóa nhà tạm nhà dột nát tại xã Q và xã H;

    Bị cáo Vũ Minh T1 có ông là Đỗ Danh L3, bà Nguyễn Thị T6 được tặng thưởng Huy chương chiến thắng, Huy chương kháng chiến; tích cực tham gia các phong trào tình nguyện tại địa phương đóng góp ủng hộ chương trình xóa nhà tạm nhà dột nát tại UBND thị trấn V;

    Bị cáo Nguyễn Văn H1 có ông nội là Nguyễn Văn H7 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, ông ngoại là Lê Quang M2 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bà ngoại là Đỗ Thị B tham gia dân công hỏa tuyến;

    Bị cáo Huỳnh Bá M có ông nội là Huỳnh Bá X, bà nội là Nguyễn Thị K1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến; tích cực tham gia các phong trào tình nguyện tại địa phương đóng góp ủng hộ chương trình xóa nhà tạm nhà dột nát tại UBND thị trấn V;

    Bị cáo Đỗ Danh P có ông nội là Đỗ Danh B1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, ông ngoại là Nguyễn Đức T7 được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng;

    Bị cáo Phùng Thị D có ông nội là Phùng Văn L4 là thương binh hạng 2/4, được tặng thưởng giấy khen về học tập vào các năm 2018 và 2021.

    Vì vậy các bị cáo Hà Hoàng A1; Nguyễn Văn K; Nguyễn Văn H1; Vũ Văn T8; Huỳnh Bá M; Đỗ Danh PPhùng Thị D được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  4. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo thì thấy:

    Đây là vụ án đồng phạm nhưng có tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc trước mà cùng tiếp nhận ý chí của nhau để thực hiện hành vi phạm tội.

    Đánh giá về hành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới an toàn và trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.

    Đối với bị cáo Dương Thành Đ, Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1,, Huỳnh Bá MĐỗ Danh P là những người khởi xướng, cùng rủ nhau về nhà Hà Hoàng A1 lấy dao phóng lợn và kiếm để thực hiện hành vi phạm tội nên cùng có vai trò thứ nhất trong vụ án.

    Đối với Vũ Minh T1Phùng Thị D biết các bị cáo trên mang theo hung khí nhưng lại tiếp nhận ý chí đi cùng và trực tiếp điều khiển phương tiện để chở các bị cáo đi nhanh, lạng lách tìm đuổi nhau trên đường khu đô thị nên có vai trò thứ hai; chịu mức hình phạt nhẹ hơn các bị cáo trên.

    Đối với các bị cáo Hà Hoàng A1, Phùng Thị DĐỗ Danh P khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự khi xét xử và quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

    HĐXX xét thấy: Bị cáo Dương Thành Đ là người có nhân thân xấu, ngày 10/01/2024 bị UBND huyện L xử phạt vi phạm hành chính nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

    Đối với bị cáo Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Huỳnh Bá M, Vũ Minh T1, Đỗ Danh PPhùng Thị D là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo đều còn trẻ; thực hiện tội phạm một cách bộc phát nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

  5. Đối với các tài sản do các bị cáo giao nộp gồm: xe mô tô, biển số 98B3 – 556.97 là xe của ông Huỳnh Văn Á, sinh năm 1974, ở tổ dân phố T, thị trấn V, huyện L (bố đẻ M); xe mô tô YAMAHA Exciter, biển số 98K1 - 129.72 là xe của bà Lê Thị L1, sinh năm 1975, ở thôn C, xã T, huyện L (mẹ đẻ Hồi); xe mô tô Honda Wave, biển số 98E1 - 737.93 là xe của ông Đỗ Danh T3, sinh năm 1976, ở tổ dân phố Ồ, thị trấn V, huyện L (bố đẻ P); điện thoại Iphone, màu vàng có cố IMEI: 354506120253503 của K; điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen, số IMEI 1: 358735060582128, IMEI 2: 358735060582136 của Hồi; điện thoại Iphone, màu xám, màn hình bị vỡ có IMEI: 3544510632380098 của Hoàng A1.

    Quá trình điều tra xác định ông Á, ông T3 và bà L1 đều không biết việc M, P, H1 sử dụng các xe mô tô trên để tham gia gây rối trật tự công cộng. Đối với 01 điện thoại Iphone của K; 01 điện thoại nhãn hiệu Viettel màu đen của Hồi; 01 điện thoại Iphone, màu xám của Hoàng A1 không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 26/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là đúng quy định nên không đặt ra xem xét.

    Đối với 01 dao phóng lợn và 03 thanh kiếm, KP khai vứt ở đoạn đường mới thôn T, xã T và bãi đất trống thuộc tổ dân phố K, thị trấn V. Cơ quan điều tra đã đưa các đối tượng chỉ dẫn vị trí vứt hung khí và tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

    Đối với Trịnh Long G không tham gia gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

    Đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, sử dụng vũ khí thô sơ của của Hà Hoàng A1Nguyễn Văn K cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an huyện L để xem xét xử lý theo quy định.

  6. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô Honda SH, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98B3 - 867.17; số khung: RLHKF1417DY021273, số máy: KF14E0021360 là của Nguyễn Văn K sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước;

    Đối với 01 dao phóng lợn có tổng chiều dài 240cm, có cán bằng kim loại, hình trụ, đường kính 2,6cm được hàn với phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm là công cụ phương tiện dùng để phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

    Đối với các vật chứng khác được thu giữ trong quá trình điều tra đã được Cơ quan điều tra xử lý nên không đặt ra xem xét.

  7. Về án phí: Bị cáo Dương Thành Đ thuộc diện hộ nghèo nên được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

  8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  2. Căn cứ Điều 12; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án;
  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Thành Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/02/2024.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Hoàng A1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Minh T1 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  6. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Bá M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  7. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Danh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.
  8. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Thị D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/7/2024.

Giao các bị cáo Hà Hoàng A1Nguyễn Văn H1 cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Vũ Minh T1, Huỳnh Bá MĐỗ Danh P cho UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Phùng Thị D cho UBND xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về vật chứng:

  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô Honda SH, màu đỏ đen, biển kiểm soát 98B3 - 867.17; số khung: RLHKF1417DY021273, số máy: KF14E0021360 của Nguyễn Văn K;
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 dao phóng lợn có tổng chiều dài 240cm, có cán bằng kim loại, hình trụ, đường kính 2,6cm được hàn với phần lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).

[3]. Về án phí: iêQuyeetsiêQuyeetsCác bị cáo Hà Hoàng A1, Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn H1, Vũ Minh T1, Huỳnh Bá M, Phùng Thị DĐỗ Danh P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Dương Thành Đ được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.iêQuyeets

[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo Phùng Thị D, Đỗ Danh P; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp, người bào chữa của các bị cáo Phùng Thị D, Đỗ Danh P; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Cơ quan THAHS và Cơ quan điều tra - Công an huyện Lạng Giang;
  • - THADS huyện Lạng Giang;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HSST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 63/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DƯƠNG THÀNH ĐÔ - GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger