|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HSST
Ngày: 04/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Rành;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phương - Kiểm sát viên
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Ngọc Hoài T, sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Căn hộ M2 11.03 Chung cư E S, Khu phố A, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 8/12; con ông Lê Tấn N và con bà Thang Ngọc M; Anh chị em: 02 người (lớn nhất, sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997); Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2023 đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
- Nguyễn Phú S, sinh năm 1998 tại tỉnh Cà Mau; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 319 ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông (không rõ) và con bà Nguyễn Ngọc H; Anh chị em: Có một người anh sinh năm 1985; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/4/2023 đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
- Hà Thị Minh A, sinh năm 1999 tại tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A K, Khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Căn hộ M2 11.03 Chung cư E S, Khu phố A, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Hà Văn M1 (đã chết) và con bà Lê Thị P; Anh chị em: 02 người (lớn nhất, sinh năm: 2004, nhỏ nhất, sinh năm: 2009). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số C đường N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Trà Quốc L, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Số I đường C, phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú: Số E đường số A, khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Ông Phương Việt K, sinh năm 1985; địa chỉ: Số C ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Hà Thị Minh A và Lê Ngọc Hoài T là bạn quen biết với nhau, trước đây Minh A có sử dụng ma túy cùng với Hoài T. Từ đầu tháng 3/2022, Minh A thuê căn hộ M2 11.03 Chung cư E S, phường B, Quận G (căn hộ do bà Nguyễn Thị Bích N1 là chủ sở hữu) để ở. Đến tháng 3/2023, Lê Ngọc Hoài T đến gặp Minh A xin thuê lại 1 phòng để ở, trong căn hộ M thuê.
Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, Công an phường B phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an Q kiểm tra căn hộ M2 11.03 Chung cư E S, phường B, Quận G, bắt quả tang Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S, có hành vi tổ chức cho Trà Quốc L, sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ tại vị trí giường ngủ của T gồm có: 1 đĩa thủy tinh, trên đĩa có 1 gói ma túy loại Ketamine, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền được cuộn tròn mệnh giá 10.000 đồng, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa màu đen có chữ Chanel, 01 quẹt gas màu trắng. Tất cả vật chứng, dụng cụ trên sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của T. Kiểm tra phòng ngủ của Hà Thị Minh A, thu giữ tại ngăn tủ bàn trang điểm trong phòng ngủ của Anh có 01 gói ma túy loại Ketamine, 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 ống hút bằng giấy màu đen. Minh A khai nhận gói ma túy loại Ketamine là do T cho sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q ra Quyết định trưng cầu số: 199, 200/QĐ-CSĐT(MT) ngày 12/4/2023, giám định mẫu vật thu giữ của Hà Thị Minh A và Lê Ngọc Hoài T.
Tại Kết luận giám định 3634/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng K2, Công an Thành phố H (PC09) kết luận số ma túy thu giữ của Hà Thị Minh A:
- 01 gói nylon, chứa tinh thể không màu ký hiệu m, khối lượng 0,5285g, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
Tại Kết luận giám định 3635/KL-KTHS ngày 19/4/2023 của Phòng K2, Công an Thành phố H (PC09) kết luận số ma túy thu giữ của Lê Ngọc Hoài T:
- 01 gói nylon, chứa tinh thể không màu ký hiệu m, khối lượng 2,8830g, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
Công an phường B, Quận G, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các Lê Ngọc Hoài T và Nguyễn Phú S về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, các bị cáo Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S khai: Vào khoảng 18 giờ ngày 10/4/2023, T, S đi ăn tại đường C, Quận A, trong lúc ngồi ăn bàn bạc về việc mua ma tuý về sử dụng. T lên mạng xã hội T1 tìm người bán ma túy, T nhắn tin mua 01 gói ma túy giá 4.000.000 đồng, nhắn địa chỉ, yêu cầu người bán ma túy (không rõ nhân thân, lại lịch) giao đến hòm thư căn hộ số M2 11.03 tại sảnh M Chung cư E S, phường B, Quận G, người bán ma túy đồng ý. Thư, S đặt xe ôtô Garb về chung cư, trên xe Thư nhắn tin qua Messenger nhờ Hà Thị Minh A (là người thuê căn hộ A Chung cư E S, Khu phố A, phường B, Quận G) xuống sảnh lấy dùm ma tuý, Minh A đồng ý nhưng lười không xuống lấy, Minh A gọi cho người giao hàng để ma túy vào hòm thư căn hộ số M2 11.03 tại sảnh M Chung cư E, nhắn tin cho T biết khi về đến hòm thư lấy. Trên đường về chung cư S hỏi T tiền mua ma túy bao nhiêu S trả, T nói tiền mua 01 gói ma túy, loại Ketamine giá 4.000.000 đồng. S nói T đặt mua, S sẽ chuyển tiền mua ma túy cho T. Đến khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày, T, S về đến chung cư, khi vào sảnh T đến hòm thư lấy ma túy được bỏ trong hộp kem nhựa, cùng S lên căn hộ, T nói S đây là ma túy T đặt theo yêu cầu của S. Khi vào căn hộ, thấy Minh A đang ăn mì tại phòng khách. Thư để hộp kem chứa ma túy trên bàn phòng khách. S thấy phòng khách có dụng cụ sử dụng ma túy đĩa thủy tinh (trên đĩa thủy tinh có dư lượng nhỏ ma túy T sử dụng còn dư trước đó). S lấy ma túy mới mua trong hộp kem đổ trên tờ tiền 5.000 đồng, dùng bật lửa nấu, đổ vào đĩa thủy tinh dùng ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng sử dụng ma túy. Minh A sử dụng ống hút trên sử dụng ma túy, đi vào phòng ngủ của mình. S mang gói ma túy, dụng cụ vào phòng ngủ của T tiếp tục đổ ma túy ra nấu, S, T sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trà Quốc L đến tại phòng khách (là bạn của S, S gọi điện rủ L đến chơi), L nằm tại phòng khách, S rủ L vào phòng ngủ của T sử dụng ma túy. T, S và L sử dụng ma túy. Sang nấu ma túy sử dụng trước, đến T, L sử dụng. Thư xin Minh A cho sang ngủ lại tại căn hộ qua đêm. Minh A đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/4/2023, Hà Thị Minh A nhắn tin qua Messenger xin ma túy T sử dụng. Thư chiết ma túy để trên tờ tiền mệnh giá 5000 đồng đem qua phòng cho Minh A sử dụng. Thư cho Minh A ma túy, không nói cho S biết. Khoảng 30 phút sau khi Minh A nhận ma túy, Minh A qua phòng T, tại đây S kêu T đưa đĩa ma túy cho Minh A sử dụng 1 lần. T, S và L chơi ma túy cho đến 04 giờ ngày 11/4/2023 đi ngủ. Đến khoảng 14 giờ ngày 11/4/2023, S gọi điện, nhắn tin qua Facbook Nickname “Anh 2” (do S lưu) của Phương Việt K (anh ruột S) xin tiền 4.000.000 đồng, nhờ K chuyển đến tài khoản của T để trả cho T tiền mua ma túy, K đồng ý. K không biết S xin tiền mua ma túy. T nhận được 4.000.000 đồng từ tài khoản số [...] tên Phuong Viet K1, mở tại Ngân hàng V chuyển đến tài khoản số 6066856789 của T, mở tại Ngân hàng M3, T chuyển tiền cho người bán ma túy từ tài khoản của T số 6066856789 đến số tài khoản 19050005678011 tên Luu D mở tại Ngân hàng T2. Từ khi ngủ dậy vào sáng ngày 11/4/2023 đến khi bị bắt quả tang, S, T và L sử dụng ma túy trong căn hộ nêu trên. Đến 01 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, khi đang sử dụng ma túy bị Công an phường B kiểm tra bắt quả tang.
Bị cáo Hà Thị Minh A khai: Khoảng tối ngày 10/4/2023 người giao hàng gọi cho Minh A số 0966987777 nói giao đồ cho Minh A nhưng Minh A biết là do T đặt đồ nên gọi cho T hỏi, biết T đặt ma tuý về căn hộ sử dụng, nhờ Minh A xuống lấy dùm, Minh A nói bị đau bụng. Minh A gọi cho người giao hàng nói để hàng hòm thư căn hộ số M2 11.03 tại sảnh M Chung cư E. Minh A nhắn tin M2 cho T người giao hàng đã bỏ đồ vô hòm thư rồi để T biết, khi về lấy ma tuý. Đến khoảng 20 giờ 25 phút cùng ngày T, S về đến căn hộ M nghe tiếng mở cửa thấy S, T về căn hộ, do T mang đồ nhiều nên không biết ma tuý T để ở đâu, lúc này Minh A đang ở phòng khách nấu mì, Minh A thấy S và T cùng ở phòng khách, T nấu mì cho S, ăn chung với Minh A. Minh A không thấy S nấu ma tuý ở phòng khách. Sau khi ăn xong đi vào phòng ngủ, S, T còn ở phòng khách, sau đó Trà Quốc L tới. Minh A nói S, T, L vô phòng của T, khi ở trong phòng khoảng một lúc, Minh A thấy T ra phòng bếp lấy đĩa sứ có ma tuý từ lò vi sóng đã nấu đem vào phòng của T, lúc này Minh A biết T, S, L sử dụng ma tuý tại phòng của T. Minh A nhắn tin xin T ma tuý sử dụng, T bỏ ma tuý vào tờ tiền 5.000 đồng đem qua phòng Minh A để trên bàn, T hỏi Minh A “sao không qua chơi với mọi người”? Minh A biết T rủ qua sử dụng ma tuý chung với T, S, L mà không ngăn cản việc T, S tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý xảy ra tại căn hộ M thuê. Minh A về phòng ngủ của mình. Minh A lấy 01 phần ma tuý bỏ vào túi nylon, 01 phần còn lại để trên tờ tiền 5.000 đồng nấu sử dụng tại phòng, đi ngủ. Đến trưa ngày hôm sau tiếp tục dậy sử dụng ma tuý tại phòng cho đến khi Công an phường B kiểm tra. Minh A là người đứng tên trên hợp đồng thuê nhà và chịu trách nhiệm trước chủ nhà và pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng, sinh sống tại đây.
Trà Quốc L khai: L và S là bạn bè quen biết khoảng 3 năm. Vào khoảng 20 giờ ngày 10/4/2023, S gọi điện thoại từ số 0941.875.xxx gọi qua số điện thoại của L số 0933.159.xxx rủ L qua căn hộ M2 11.03 Chung cư E S, phường B, Quận G chơi, ngủ lại, L đồng ý. Đến khoảng khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, L đang nằm ở phòng khách, S rủ L vào phòng ngủ của T sử dụng ma túy. L vào phòng, S, T cung cấp ma túy, dụng cụ cho L sử dụng. L nghe S hỏi T tiền mua ma túy bao nhiêu, T nói tiền mua ma túy 4.000.000 đồng, S nói sẽ chuyển tiền cho T trả tiền mua ma túy. Đến khoảng 04 giờ ngày 11/4/2023, đi ngủ sau đó thức dậy ăn uống, sử dụng ma túy tại căn hộ cho đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, khi đang sử dụng ma tuý thì bị Công an phường B bắt quả tang.
Kết quả Test ma túy đối với Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S, Hà Thị Minh A và Trà Quốc L dương tính ma túy, loại Ketamine.
Tại Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-Q7 ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Các bị cáo Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Hà Thị Minh A về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm g Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H1 Thư từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Ngọc Hoài T phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú S từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Phú S phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội.
- Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 256; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Hà Thị Minh A từ 07 (bảy) năm tù đến 08 (tám) năm về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, hiện nay đang bị tạm giam nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định.
Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Q, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 01 giờ 30 phút, ngày 12/4/2023, tại Căn hộ M2 11.03 Chung cư E, địa chỉ: khu phố A, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh các bị cáo Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S tổ chức sử dụng sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Các bị cáo Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S mua ma túy cùng sử dụng và cho Trà Quốc L sử dụng trái phép chất ma túy. Khi bắt quả tang lượng ma túy thu giữ của các bị cáo T, S còn lại nhằm mục đích sử dụng là 3,4115 gram, loại Ketamine. Ngoài ra, bị cáo Lê Ngọc Hoài T còn đưa ma túy cho Hà Thị Minh A sử dụng tại phòng riêng của Minh A. Hành vi của các bị các Lê Ngọc Hoài T, Nguyễn Phú S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp đối với 02 người trở lên và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam nên tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo Hà Thị Minh A là người quản lý, sử dụng căn hộ biết T, S, bạn của S là Trà Quốc L sử dụng ma túy nhưng chứa chấp cho T, S và L sử dụng trái phép chất ma túy tại căn hộ do mình cùng quản lý, ở. Hành vi của bị cáo Hà Thị Minh A phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp đối với 02 người trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, vì tội phạm về ma túy gây tác hại lớn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo nhân thân tốt (chưa tiền án tiền sự) nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi, phạm tội lần đầu, đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
[7] Đối với Trà Quốc L, sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q thông báo cho Công an phường B xử lý hành chính theo quy định của pháp luật là có căn cứ nên hội đồng xét xử không xét.
Đối với Phương Việt K, chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Phú S thông qua tài khoản của bị cáo T để thanh toán tiền mua ma túy. Ông K không biết việc cho tiền S thông qua tài khoản của T là để S mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Q điều tra không xử lý là có căn cứ nên hội đồng xét xử không xét.
[8] Xử lý vật chứng vụ án:
- Thu giữ của bị cáo Lê Ngọc Hoài T:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Ngọc H1 Thư hình dấu Công an phường B, Quận G, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Đây là vật cấm lưu hành xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số IMEI: 355908669686557, số thuê bao: 0397930198, 01 loa nghe nhạc hiệu Marshall màu trắng dạng hình hộp, 01 đèn led màu trắng hiệu Xpace dạng hình hộp, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền được cuộn tròn mệnh giá 10.000 đồng. Bị cáo Lê Ngọc Hoài T khai nhận sử dụng vào việc phạm tội xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 đĩa thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa đen có chữ Chanel, 01 quẹt gas màu trắng. Bị cáo Lê Ngọc Hoài T khai nhận sử dụng vào việc phạm tội xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú S: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số IMEI: 353903102928718, số thuê bao: 0941875747. Bị cáo Nguyễn Phú S khai nhận sử dụng vào việc phạm tội xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Thu giữ của bị cáo Hà Thị Minh A:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Hà Thị Minh A và hình dấu Công an phường B, Quận G bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Đây là vật cấm lưu hành xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, số IMEI: 358001683930834, số thuê bao: 0966987777; 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Bị cáo Hà Thị Minh A khai nhận sử dụng vào việc phạm tội xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 ống hút bằng giấy màu đen và 01 quẹt gas màu đỏ. Bị cáo Hà Thị Minh A khai nhận sử dụng vào việc phạm tội xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Thu giữ của ông Trà Quốc L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, số IMEI 1: 355060588211362, số IMEI 2: 35506588387147, số thuê bao: 0933159998. Ông L khai điện thoại nêu trên sử dụng vào việc liên lạc với Nguyễn Phú S để sử dụng trái phép chất ma túy xét tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[9] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm g Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Hoài T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Lê Ngọc Hoài T phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Lê Ngọc Hoài T.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phú S 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Nguyễn Phú S phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2023.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Phú S.
-
Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 256; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Hà Thị Minh A 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Hà Thị Minh A.
-
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Ngọc H1 Thư hình dấu Công an phường B, Quận G, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, thu giữ của bị cáo Lê Ngọc Hoài T.
- 01 đĩa thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 thẻ nhựa đen có chữ Chanel, 01 quẹt gas màu trắng, thu giữ của bị cáo Lê Ngọc Hoài T.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký Hà Thị Minh A và hình dấu Công an phường B, Quận G bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, thu giữ của bị cáo Hà Thị Minh A.
- 01 ống hút bằng giấy màu đen và 01 quẹt gas màu đỏ, thu giữ của bị cáo Hà Thị Minh A.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh, số IMEI: 355908669686557, số thuê bao: 0397930198, 01 loa nghe nhạc hiệu Marshall màu trắng dạng hình hộp, 01 đèn led màu trắng hiệu Xpace dạng hình hộp, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền được cuộn tròn mệnh giá 10.000 đồng, thu giữ của bị cáo Lê Ngọc Hoài T.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen, số IMEI: 353903102928718, số thuê bao: 0941875747, thu giữ của bị cáo Nguyễn Phú S.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu trắng, số IMEI: 358001683930834, số thuê bao: 0966987777; 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, thu giữ của bị cáo Hà Thị Minh A.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu vàng, số IMEI 1: 355060588211362, số IMEI 2: 35506588387147, số thuê bao: 0933159998, thu giữ của ông Trà Quốc L.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 072 ngày 05 tháng 4 năm 2024 Chi cục thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Chí Hiếu |
Bản án số 63/2024/HSST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tổ chức sử dụng, tàng trữ, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 63/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng, Tàng trữ, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCSDTPCMT
