Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 63 /2024/HS-ST

Ngày 03/7//2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Hiển.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 07/2024/TB- TA ngày 17/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Trường T, sinh năm 1998 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh D, sinh năm 1958 và bà Trương Thị B, sinh năm 1962; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sư: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 (có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Xuân Đ, sinh năm 1997 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 2/2016, tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 01/2018 được xuất ngũ; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt không lý do).

- Anh Lưu Thành T1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).

- Anh Ngô Thế H1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).

- Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ là bạn với nhau, không có đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực cho vay tín dụng. Từ khoảng tháng 05/2022, T có 01 khoản tiền không dùng đến nên nảy sinh ý định cho vay lãi nặng để kiếm thêm thu nhập. T rủ Đ tham gia. T và Đ thống nhất: T bỏ tiền vốn để cho vay còn Đ tìm kiếm người có nhu cầu vay. Tiền lãi thu được sẽ chia theo tỷ lệ T được hưởng 2/3, còn Đ được hưởng 1/3. Lãi suất cho vay mặc định là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, cắt lãi trước vào gốc. Ngày trả lãi hàng tháng trùng với ngày vay vì tháng thừa bù tháng thiếu để tiền lãi hàng tháng tương ứng với 30 ngày. Khi vay không cần viết giấy hay cầm cố tài sản gì vì Đ phải lựa chọn những người tin cậy để báo lại cho T quyết định. T và Đ giao dịch chuyển gốc và lãi bằng 2 hình thức trực tiếp hoặc thông qua số tài khoản của T là 210199899999 ngân hàng M, của Đ là 13101997999999 ngân hàng M. Đối với những khoản vay đầu phải cắt lãi trước T mới xuất tiền. T cắt phần của T, Đông cắt phần của Đ, còn lại gốc bao nhiêu Đ sẽ chuyển cho người vay. Đối với khoản lãi hàng tháng sau đó, Đ là người thu tiền, Đ tự chủ động lấy hoa hồng mình được hưởng, còn lại chuyển cho T. Đ đồng ý tất cả yêu cầu mà T đưa ra. Thực hiện kế hoạch đó trong khoảng thời gian từ tháng 05/2022 đến tháng 02/2024, T và Đ đã cho 04 người dân ở huyện Đ, tỉnh Thái Bình vay tổng số tiền 100.000.000 đồng với mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với 182,5%/năm, gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là 20%/năm, cụ thể như sau:

Người thứ nhất: Anh Nguyễn Xuân H, trú tại thôn H, xã M, huyện Đ có 02 lần vay tiền.

Lần 1:

Ngày 30/05/2022, do cần tiền chi tiêu nên anh H hỏi vay Đông số tiền 10.000.000 đồng. Đ đưa ra các yêu cầu là: lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (tương ứng với số tiền 1.500.000 đồng/01 tháng, 50.000 đồng/01 ngày), sẽ cắt lãi lần vay đầu, trả lãi các tháng tiếp theo vào ngày trùng của ngày vay đến khi trả được gốc. Anh H đồng ý với cách thức vay và lãi nêu trên. Đông báo lại với T, T đồng ý. T cắt lãi tháng đầu là tháng 6/2022, theo tỷ lệ mình được hưởng là 1.000.000 đồng còn lại chuyển qua tài khoản cho Đ 9.000.000 đồng. Đông nhận được tiền, tiếp tục cắt lãi phần của mình được hưởng là 500.000 đồng nên chuyển lại cho anh H tiền gốc là 8.500.000 đồng, chuyển trực tiếp bằng tiền mặt. Các tháng tiếp theo gồm 7,8,9,10/2022 anh H đã chuyển trả đủ lãi như đã thỏa thuận cho Đ.

Lần 2:

Đến ngày 30/11/2022, anh H tiếp tục vay Đông số tiền 5.000.000 đồng mức lãi suất như cũ 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (tương ứng với số tiền 750.000 đồng/01 tháng, 25.000 đồng/01 ngày. Do số lãi tháng là lẻ nên Đ và T giảm 50.000 đồng, còn 700.000 đồng/01 tháng cho tròn tức là 23.300 đồng/01 ngày). T và Đ tính toán cắt lãi tháng đầu là 700.000 đồng, tiếp tục thu lãi tháng 11/2022 của khoản vay lần 1 là 1.500.000 đồng. Số tiền thực tế chuyển cho anh H 2.800.000 đồng. Lần này T đưa trực tiếp tiền mặt cho Đ và Đ trực tiếp đưa cho anh H. Anh H thống nhất hàng tháng sẽ trả luôn lãi của 02 khoản là 2.200.000 đồng cho Đ. Sau đó, H đã trả cho Đ lần lượt lãi các tháng gồm tháng 12/2022; tháng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 năm 2023. Ngày 30/8/2023, anh H trả tiền gốc khoản vay thứ hai cho Đ là 5.000.000, giao dịch chấm dứt.

Anh H tiếp tục đóng lãi các 8, 9,10 năm 2023 của khoản vay đầu. Các lần trả tiền lãi của 02 khoản vay, có lần anh H chuyển trực tiếp bằng tiền mặt cho Đ, có lần dùng tài khoản 1015001016 ngân hàng V của mình chuyển cho số tài khoản 13101997999999 ngân hàng M của Đ (Các tháng chuyển khoản là 6,8,9,12/2022 và 1,2,6,7/2023). Đến ngày 06/11/2023, do không còn khả năng trả tiền lãi nên anh H đã đến gặp Đ để xin chốt lãi và trả dần tiền gốc, Đ đã trao đổi việc này với T và cả 2 đều đồng ý. Đến nay anh H vẫn chưa trả số tiền gốc 10.000.000 đồng cho Đ.

Đối với khoản vay lần đầu 10.000.000 đồng, trong khoảng thời gian 525 ngày từ ngày 30/05/2022 đến ngày 06/11/2023 (ngày chốt và xin lãi), theo thỏa thuận anh H phải trả cho Đ tổng số tiền lãi là (50.000 đồng x 525 ngày) = 26.250.000. Tuy nhiên thực tế, anh H đã trả cho Đ số tiền lãi của 17 tháng là: 1.500.000 đồng x 17 = 25.500.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 525 ngày = 2.876.712 đồng. Số tiền T và Đ thu lợi bất chính bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là 25.500.000 – 2.876.712 = 22.623.288 đồng.

Đối với khoản vay thứ hai 5.000.000 đồng, thời gian 273 ngày từ ngày 30/11/2022 đến ngày 30/08/2023 (ngày trả xong gốc), anh H phải trả cho Đ tổng số tiền lãi là (23.300 đồng x 273 ngày) = 6.360.000 đồng. Tuy nhiên thực tế, anh H đã trả cho T và Đ số tiền lãi của 9 tháng là: 700.000 đồng x 9 = 6.300.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (5.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 273 ngày = 747.945 đồng. Số tiền T và Đ thu lợi bất chính bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự của khoản vay trên là 6.300.000 đồng – 747.945 đồng = 5.552.055 đồng.

Tổng số tiền T và Đ thu lợi bất chính từ 02 lần vay trên là 28.175.343 đồng.

Người thứ 2: Anh Phạm Văn H2, trú tại thôn C, xã C, huyện Đ.

Với hình thức và lãi suất cho vay như trên ngày 20/8/2022, Đ và T cho anh H2 vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với số tiền 3.000.000 đồng/01 tháng, 100.000 đồng/01 ngày. Sau khi cắt lãi tháng đầu là tháng 9/2022 là 2.000.0000 đồng, T chuyển trực tiếp cho Đ bằng tiền mặt 18.000.000 đồng. Đông cắt lãi phần của mình là 1.000.000 đồng, nên chuyển cho anh H2 số tiền gốc là 17.000.000 đồng. Anh H2 đã trả lần lượt cho Đông đủ 06 tháng tiền lãi của các tháng 10,11,12/2022; 01,02,3/2023, hình thức trả có lần chuyển trực tiếp bằng tiền mặt, có lần H2 dùng tài khoản của mình là 19704229226924210 ngân hàng M chuyển cho số tài khoản 13101997999999 ngân hàng M của Đ. (Các tháng chuyển khoản là 10/2022 và 1,2,3/2023). Đến ngày 20/3/2023, anh H2 đã trả cho tiền gốc là 20.000.000 đồng và chấm dứt khoản vay.

Từ ngày 20/8/2022 đến ngày 20/3/2023, anh H2 phải trả Đông tổng số tiền lãi là (100.000 đồng x 212 ngày) = 21.200.000 đồng nhưng thực tế anh H2 đã trả cho Đ tổng số tiền lãi là 7 tháng x 3.000.000 đồng = 21.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (20.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 212 ngày = 2.323.287 đồng. Số tiền T và Đ thu lợi bất chính từ xử lý trách nhiệm hình sự là 21.000.000 đồng – 2.323.287 đồng = 18.676.713 đồng.

Người thứ 3: Anh Ngô Thế H1, trú tại thôn N, xã C, huyện Đ, có các lần vay cụ thể sau:

Lần 1:

Ngày 25/01/2023, với hình thức và lãi suất cho vay như trên Đ và T cho anh H1 vay số tiền 5.000.000 đồng lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với số tiền 750.000 đồng/01 tháng, 25.000 đồng/01 ngày. Sau khi cắt lãi 500.000 đồng, T chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho Đ 4.500.000 đồng. Đông cắt lãi 250.000 đồng rồi chuyển khoản cho anh H1 số tiền vay gốc là 4.250.000 đồng số tài khoản của H1 1027834855 ngân hàng V1. Anh H1 trả đủ lãi tháng 3/2023. Ngày 25/03/2023 anh H1 đã trả cho T và Đ số tiền gốc 5.000.000 đồng và chấm dứt khoản vay.

Từ ngày 25/01/2023 đến ngày 25/03/2023, anh H1 phải trả Đông tổng số tiền lãi là (25.000 đồng x 60 ngày) = 1.500.000 đồng, thực tế anh H1 đã trả cho T và Đ số tiền lãi là 02 tháng x 750.000 đồng = 1.500.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (5.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 60 ngày = 164.383 đồng. Số tiền T và Đ thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự là 1.500.000 đồng – 164.383 đồng = 1.335.617 đồng.

- Lần 2:

Ngày 14/4/2023, tương tự như lần 1, Đ và T cho anh H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với số tiền 1.500.000 đồng/01 tháng, 50.000 đồng/01 ngày. Sau khi cả hai cắt lãi tháng đầu tháng 5/2023, Đ đưa tiền mặt trực tiếp cho anh H1 8.500.000 đồng. Sau đó, anh H1 đã trả cho Đ thêm 06 tháng tiền lãi của các tháng 6,7,8,9,10/2023. Ngày 14/10/2023, anh H1 trả Đ số tiền gốc 10.000.000 đồng và chấm dứt khoản vay. Quá trình trả gốc và lãi có lần anh H1 trả trực tiếp bằng tiền mặt, có lần sử dụng số tài khoản 1027834855 ngân hàng V1 của mình chuyển đến số tài khoản của Đ là 13101997999999 ngân hàng M (tháng 9/2023)

Từ ngày 14/04/2023 đến ngày 14/10/2023, anh H1 phải trả Đông tổng số tiền lãi là (50.000 đồng x 183 ngày) = 9.150.000 đồng nhưng thực tế anh H1 đã trả cho T và Đ số tiền lãi 6 tháng: 1.500.000 đồng x 6 = 9.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 183 ngày = 1.002.739 đồng. Số tiền thu lợi bất chính xử lý trách nhiệm hình sự là 9.000.000 đồng - 1.002.739 đồng = 7.997.260 đồng.

Tổng số tiền thu lợi bất chính của 02 lần vay trên là 9.332.877.

Người thứ 4: Anh Lưu Thành T1, trú tại thôn C, xã C, huyện Đ có các lần vay gồm:

- Lần 1:

Ngày 14/02/2023 và 17/02/2023, Đ và T cho anh T1 vay mỗi lần 10.000.000 đồng, tổng là 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với số tiền 1.500.000 đồng/01 tháng, 50.000 đồng/01 ngày. T sau khi cắt lãi đã chuyển cho Đ 02 lần, mỗi lần 9.000.000 đồng. Đông sau khi cắt lãi phần của mình thì chuyển khoản đến số tài khoản 1023420467 ngân hàng V1 của anh T1 mỗi lần 8.500.000 đồng. Anh T1 đã đóng lãi các tháng tiếp theo gồm tháng 4,5,6/2023 cho Đ. Đến ngày 06/6/2023 anh T1 đã trả Đ số tiền gốc 20.000.000 đồng tiền gốc và chấm dứt 02 khoản vay. Các lần trả lãi và gốc anh T1 có lần trả bằng tiền mặt và có lần dùng số tài khoản 1023420467 ngân hàng V1 của mình chuyển cho Đ qua số tài khoản 13101997999999 ngân hàng M (tháng 3,6/2023).

Đối với khoản vay ngày 14/02/2023. Từ ngày 14/02/2023 đến ngày 06/06/2023, anh T1 phải trả cho T và Đ tiền lãi là (50.000 đồng x 112 ngày) = 5.600.000 đồng, thực tế anh T1 đã trả cho Đ số tiền lãi 5.600.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 112 ngày = 613.699 đồng. Số tiền thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự là 5.600.000 đồng – 613.699 đồng = 4.986.301 đồng.

Đối với khoản vay ngày 17/02/2023, Từ ngày 17/02/2023 đến ngày 06/06/2023, anh T1 phải trả cho T và Đ tổng số tiền lãi là (50.000 đồng x 109 ngày) = 5.450.000 đồng, thực tế anh T1 đã trả cho Đ số tiền lãi 5.450.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự mà T và Đ được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 109 ngày = 597.260 đồng. Số tiền T và Đ thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự là 5.450.000 đồng – 597.260 đồng = 4.852.740 đồng.

Lần 2:

Ngày 28/7/2023, Đ và T cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương ứng với số tiền 1.500.000 đồng/01 tháng. Sau khi cả hai cắt lãi của tháng 8/2023 là 1.500.000 đồng thì Đ chuyển cho anh T1 8.500.000 đồng bằng tiền mặt. Đối với khoản tiền này anh T1 chưa trả gốc và lãi các tháng tiếp theo.

Lần 3:

Ngày 28/8/2023, T và Đ cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, 3.000.000 đồng/01 tháng. Sau khi cả hai cắt lãi khoản vay này là 3.000.000 đồng và thu lãi tháng 9/2023 của khoản vay 28/7/2023 là 1.500.0000 đồng, Đ đưa tiền mặt trực tiếp cho anh T1 15.500.000 đồng. Đối với khoản tiền này anh T1 chưa trả gốc và lãi các tháng tiếp theo.

Đối với khoản vay ngày 28/7/2023, trong khoảng thời gian từ 28/7/2023 đến ngày 19/02/2024 (ngày phát hiện tội phạm), anh T1 phải trả cho Đ tổng số tiền lãi là (50.000 đồng x 206 ngày) = 10.300.000 đồng nhưng thực tế anh T1 mới trả cho Đ số tiền lãi 02 tháng 8, 9/2023 là: 1.500.000 đồng x 2 = 3000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự được phép thu đối với khoản vay trên là (10.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x 206 ngày = 1.128.767 đồng. Số tiền thu lợi bất chính từ xử lý trách nhiệm hình sự là 10.300.000 đồng – 1.128.767 đồng = 9.171.233 đồng.

Đối với khoản vay 28/8/2023, trong khoảng thời gian từ 28/08/2023 đến ngày 19/02/2024 (ngày phát hiện tội phạm), anh T1 phải trả cho Đ số tiền lãi theo thoả thuận là (100.000 đồng x 175 ngày) = 17.500.000 đồng, số tiền lãi anh T1 đã trả tháng 9/2023 là 3.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự được phép thu đối với khoản vay trên là (20.000.000 đồng x 20%/365 ngày) x175 ngày = 1.917.808 đồng. Số tiền thu lợi bất để xử lý trách nhiệm hình sự là 17.500.000 đồng – 1.917.808 đồng = 15.582.192 đồng.

Tổng số tiền T và Đ thu lợi bất chính từ 04 lần cho anh T1 vay là 34.592.466 đồng.

Tổng số tiền thu lời bất chính T và Đ cho 04 người vay là 90.777.399 đồng.

- Tại phiên tòa: Các bị cáo thành thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

- Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay tiền của T và Đ gồm anh Nguyễn Xuân H, anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2 thể hiện: Các anh đã vay tiền của T và Đ và phải trả lãi suất cao cho T và Đ như lời khai của T và Đ.

Anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2 không yêu cầu T và Đ phải trả lại cho các anh số tiền lãi mà T và Đ đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Xuân H yêu cầu T và Đ phải trả lại số tiền lãi đã thu của anh vượt quá mức quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 59/CT-VKSĐH ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Đ truy tố các bị cáo: Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên và Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 201; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T.

Phạt bổ sung bị cáo T từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 201; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đ.

Phạt bổ sung bị cáo Đ từ 15.000.000đồng đến 20.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đề nghị:

+ Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền các bị cáo sử dụng vào việc cho vay lãi nặng mà người vay đã trả để tịch thu sung Ngân sách Nhà nước;

+ Buộc anh Nguyễn Xuân H và anh Lưu Thành T1 nộp lại số tiền gốc còn nợ bị cáo T và Đ để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà người vay đã trả để tịch thu sung Ngân sách Nhà nước (tỷ lệ nộp: T phải nộp 2/3; Đông phải nộp 1/3).

+ Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại tiền lãi mà các bị cáo đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

+ Buộc bị cáo T và Đ phải trả lại cho anh Nguyễn Xuân H số tiền lãi 28.175.343 đồng mà T và Đ đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật (tỷ lệ phải trả lại: T3; Đông 1/3).

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận:

- Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

- Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc vay tiền của các bị cáo là anh Nguyễn Xuân H, anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2; Bản sao kê tài khoản của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các bị cáo; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 05/2022 đến tháng 02/2024, Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ đã 09 lần cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (các lần thu lời bất chính đều dưới 30.000.000 đồng) đối với 04 người gồm: Anh Nguyễn Xuân H; anh Phạm Văn H2; anh Ngô Thế H1 và anh Lưu Thành T1 với tổng số tiền 100.000.000 đồng, mức lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày tương đương với 182,5%/năm gấp 125 lần mức lãi suất cao nhất so với quy định của Bộ luật dân sự, thu lời bất chính là 90.777.399 đồng. Trong đó, T là người cung cấp vốn và sử dụng tiền lãi, Đ tìm người vay, giúp sức thu tiền lãi và nhận hoa hồng từ việc thu lãi.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng. Các bị cáo chỉ vì động cơ, mục đích lợi ích cá nhân, bất chấp các quy định của pháp luật, lợi dụng những người gặp khó khăn về kinh tế, đã cho vay với lãi suất cao, nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân. Hậu quả mà các bị cáo gây ra phải chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật.

[4]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Bị cáo T là người giữ vai trò chính, là người khởi xướng, rủ rê Đ thực hiện hành vi tìm người vay tiền để cho vay với lãi suất cao nên cả hai là đồng phạm với vai trò là người thực hành. Bị cáo T là người bỏ tiền gốc cho vay, được hưởng 2/3 tiền lãi nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Đ trực tiếp thực hiện tìm người vay, thu tiền lãi và được chia 1/3 lãi thu được nên giữ vai trò thứ 2.

[5]. Khi quyết định hình phạt, xét thấy:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự;

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ còn có thời gian tham gia Q nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.

Do các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

Căn cứ Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ- HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì: Vật, tiền liên quan đến việc phạm tội được xử lý như sau:

- Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc cho vay lãi nặng mà người vay đã trả, bị cáo T đang quản lý gồm: Anh Phạm Văn H2 20.000.000 đồng, anh Nguyễn Xuân H 5.000.000 đồng, anh Ngô Thế H1 15.000.000 đồng, anh Lưu Thành T1 20.000.000 đồng. Tổng = 60.000.000 đồng buộc bị cáo T phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc những người vay nộp lại số tiền gốc còn nợ các bị cáo để tịch thu sung ngân sách Nhà nước (gồm: anh Nguyễn Xuân H phải nộp lại 10.000.000 đồng, anh Lưu Thành T1 phải nộp lại 30.000.000 đồng).

- Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo qui định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo thu được từ người vay là 8.982.025 đồng cần buộc các bị cáo nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước; cụ thể: T phải nộp 2/3 = 5.988.000 đồng (số làm tròn) và Đ phải nộp 1/3 = 2.994.000 đồng (số làm tròn).

- Số tiền lãi các bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), các bị cáo phải trả cho người vay yêu cầu giải quyết là anh Nguyễn Xuân H 28.175.343 đồng; cụ thể: T phải trả 2/3 = 18.783.000 đồng (số làm tròn), Đ phải trả 1/3 = 9.391.000 đồng (số làm tròn).

- Số tiền lãi các bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự), những người vay anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại. Đây là sự tự nguyện của những người vay nên cần chấp nhận.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

- Áp dụng: khoản 1, 3 Điều 201; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 35; Điều 17; Điều 58; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Vũ Trường T 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ; thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với Vũ Trường T.

Phạt bổ sung Vũ Trường T 30.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 35; Điều 17; Điều 58; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt Phạm Xuân Đ 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ; thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đ nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với Phạm Xuân Đ.

Phạt bổ sung Phạm Xuân Đ 20.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ cho UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ có trách nhiệm phối hợp với UBND xã C trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

2. Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 01/2021/NQ- HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao:

- Buộc bị cáo Vũ T2 T phải nộp lại số tiền bị cáo dùng cho vay lãi nặng mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả là 60.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ phải nộp lại số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà các bị cáo thu được từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 8.982.025 đồng để tịch thu sung ngân sách Nhà nước; cụ thể: Bị cáo Vũ Trường T phải nộp 5.988.000 đồng; bị cáo Phạm Xuân Đ phải nộp 2.994.000 đồng.

- Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau đây phải nộp lại số tiền gốc vay chưa trả các bị cáo để tịch thu sung ngân sách Nhà nước; gồm:+ Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình phải nộp lại 10.000.000 đồng.

+ Anh Lưu Thành T1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Bình phải nộp lại 30.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ phải trả lại cho anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình số tiền lãi 28.175.343 đồng các bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội (cho vay lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự); cụ thể: Bị cáo Vũ Trường T phải trả 18.783.000 đồng, bị cáo Phạm Xuân Đ phải trả 9.391.000 đồng.

- Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lưu Thành T1, anh Ngô Thế H1 và anh Phạm Văn H2 không yêu cầu bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ phải trả lại tiền lãi mà bị cáo T và Đ đã thu vượt quá mức quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Các bị cáo Vũ Trường T và Phạm Xuân Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND H.Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT; Nhà tạm giữ Công an H.Đông Hưng;
  • - Chi cục THADS H.Đông Hưng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, cơ quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Kiên Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Trường Thanh, Phạm Xuân Đông- Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger