|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03/6/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thuận Bé
Bà Trương Ngọc Diện
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 32/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lin Ming D, sinh năm 1980
Cư trú tại: Lầu A, số D, lô L, khóm D, phường L, khu Q, thành phố Đ, Đài Loan.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2003
Cư trú tại: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 11/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lin Ming D trình bày và yêu cầu:
Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc H quen biết nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 337 ngày 27/10/2023. Trong thời gian đầu ông và bà H chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng thời gian về sau giữa ông và bà H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, công việc, nơi cư trú của mỗi người khác nhau nên không thể hòa giải và hàn gắn lại được. Sau đó, ông về Đài Loan và không đến Việt Nam nữa, còn bà H ở lại Việt Nam. Do đó mâu thuẫn giữa ông và bà H ngày càng nghiêm trọng, giữa hai người không còn liên lạc với nhau và sống ly thân cho đến nay.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông và bà H đã sống ly thân. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H. Ông và bà H không có con chung, tài sản chung và nợ chung, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề này.
- Tại Bản tự khai ngày 15/5/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:
Vào khoảng cuối năm 2023, thông qua mai mối bà với ông Lin Ming D có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 337 ngày 27/10/2023. Do hai bên không hòa hợp, không thể sống chung nên sau đó ông Lin Ming D đã trở về Đài Loan và từ đó bà không còn liên lạc với ông Lin Ming D cho đến nay. Do không thể tiếp tục chung sống và tình cảm không còn nên bà cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu ông Lin Ming D. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lin Ming D có quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) cư trú tại Đài Loan khởi kiện xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc H cư trú tại Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Lin Ming D là người nước ngoài, không cư trú tại Việt Nam và có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Đồng thời, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Lin Ming D và bà Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam), được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 337 ngày 27/10/2023 theo quy định nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của các đương sự thể hiện trong hồ sơ vụ án, sau thời gian chung sống giữa ông Lin Ming D và bà H xảy ra bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên không cảm thấy hạnh phúc và dẫn đến sống ly thân mỗi người một nơi. Ông Lin Ming D thì sinh sống, định cư tại Đài Loan còn bà H thì ở tại Việt Nam. Do xa cách về địa lý, không còn tình cảm nên trong thời gian sống ly thân, ông Lin Ming D và bà H cũng không quan tâm gì đến nhau. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa ông Lin Ming D và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn xin ly hôn, bị đơn cũng có ý kiến đồng ý ly hôn theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông L Ming Da đối với bà H là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung, tài sản và nợ chung: ông Lin Ming D và bà Nguyễn Thị Ngọc H có lời khai thống nhất: Thời gian chung sống, ông bà không có con chung, tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề này nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét. Trường hợp nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28, Điều 37, Điều 207, Điều 238, khoản 1 Điều 273 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 121; khoản 2 Điều 123 và khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lin Ming D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông L Ming Da được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc H.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: ông Lin Ming D và bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lin Ming D phải chịu số tiền 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng mà ông Lin Ming D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000224, ngày 07 tháng 2 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ nên ông Lin Ming D không phải nộp thêm tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo:
- Nguyên đơn ông Lin Ming D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Võ Bảo Anh |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
