Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02-8-2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy;
  • 2. Ông Nguyễn Bá Lý.

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 931/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thanh M, sinh năm 1983. Nơi ĐKHKTT: 49/9/5 Lê Đại H, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở hiện nay: Ngã 6 B, thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: 4 L, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2023; bản tự khai ngày 26/12/2024 và tại phiên tòa bà Đinh Thị Thanh M trình bày:

Bà và ông Lê Văn H1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/7/2009. Sau khi kết hôn bà và ông H1 chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bà và ông H1 không hợp với nhau về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, ông H1 không quan tâm chăm sóc cho bà và các con. Do mâu thuẫn căng thẳng bà và ông H1 đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông H1 nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn H1.

Về con chung: Bà và ông Lê Văn H1 có 01 con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 26/7/2009 và cháu Lê Đinh Thoại M1, sinh ngày 17/6/2016. Ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con chung là cháu Lê Đinh Thoại M1 và giao con chung là cháu Lê Anh T cho ông H1 được trực tiếp nuôi dưỡng. Vì từ khi ly thân đến nay, bà và cháu M1 đã chuyển về tại Ngã 6 B, thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi sinh sống, cháu T sống cùng anh H1 tại 49/9/5 Lê Đại H, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai đến nay.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng bà, vì bà và ông H1 mỗi người nuôi một con chung và bà đủ điều kiện kinh tế nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Lê Văn H1. Tuy nhiên, ông Lê Văn H1 không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, ông ông Lê Văn H1 không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn bà Đinh Thị Thanh M đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn ông Lê Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Bà M phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ ý kiến của đương sự và đại diện viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đinh Thị Thanh M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lê Văn H1. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyển của Tòa án nhân dân cấp huyện vì bị đơn là ông Lê Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn ông Lê Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Thanh M và ông Lê Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 16/7/2009 nên quan hệ hôn nhân của bà M và ông H1 là hợp pháp.

Quá trình chung sống ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó giữa bà M và ông H1 đã có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bà M và ông H1 không hợp với nhau về tính cách và quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn căng thẳng bà M và ông H1 không còn tình cảm, quan tâm, chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ năm tháng 01/2024 cho đến nay. Nay bà M nhận thấy không còn tình cảm với ông H1 nữa nên bà M yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn H1.

[3] Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa bà Đinh Thị Thanh M và ông Lê Văn H1 là do tính cách hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng cãi vã. Mặt khác, bà M cho rằng ông H1 không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Quá trình hòa giải tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Đinh Thị Thanh M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là được ly hôn với ông Lê Văn H1 để ổn định cuộc sống và nuôi dạy con trưởng thành. Tòa án cũng đã triệu tập ông H1 để tiến hành hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án nhưng ông H1 không đến Tòa án để tham phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa. Như vậy, ông H1 đã không còn yêu thương đối với bà M và không quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng như việc xây dựng, hàn gắn tổ ấm gia đình.

Theo biên bản xác minh ngày 12/6/2024 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai thể hiện: “Ông Lê Văn H1 có đăng ý thường trú và có sinh sống tại địa chỉ: 4 L, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đối với bà Đinh Thị Thanh M thì hiện bà M không còn sinh sống tại địa chỉ: 4 L, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai mà đã chuyển về tỉnh Quảng Ngãi sinh sống từ tháng 01/2024 đến nay. Đối với mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Lê Văn H1 và bà Đinh Thị Thanh M thì địa phương không có thông tin”.

Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa bà M và ông H1 đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Thanh M là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà Đinh Thị Thanh M và ông Lê Văn H1 có 02 con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 26/7/2009 và cháu Lê Đinh Thoại M1, sinh ngày 17/6/2016. Ly hôn, bà M yêu cầu được nuôi con chung là cháu Lê Đinh Thoại M1 và giao con chung là cháu Lê Anh T cho ông H1 được trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét, 02 con chung thì Hội đồng xét xử thấy rằng: từ khi bà M và ông H1 ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay thì cháu Lê Đinh Thoại M1 sống cùng với mẹ bà Đinh Thị Thanh M tại tỉnh Quảng Ngãi. Cháu Lê Anh T sống chung với cha là ông H1 tại 49/9/5 L, Tổ F, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Theo bản tự khai của 02 con chung tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku ngày 16/4/2024 thể hiện nguyện vọng của con chung Lê Đinh Thoại M1 muốn được sống với mẹ là bà M và cháu Lê Anh T muốn được sống với cha là ông H1 khi bà M và ông H1 ly hôn. Ông H1 không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung đối với bà M.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà M phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp đến phát triển ổn định của con chung là Lê Đinh Thoại M1 và Lê Anh T nên giao con chung Nguyễn Thị Kiều M2 cho bà M và giao con chung Lê Anh T cho ông H1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung Nguyễn Thị Kiều M2 và Lê Anh T đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà Đinh Thị Thanh M không yêu cầu ông Lê Văn H1 cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lê Đinh Thoại M1, sinh ngày 17/6/2016 cùng bà M, vì mỗi người nuôi 01 con chung và bà M đủ điều kiện kinh tế nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Đinh Thị Thanh M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đinh Thị Thanh M là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Thanh M đối với ông Lê Văn H1.

1.Về hôn nhân: Cho bà Đinh Thị Thanh M được ly hôn ông Lê Văn H1.

2. Về con chung: Bà Đinh Thị Thanh M và ông Lê Văn H1 có 02 con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 26/7/2009 và cháu Lê Đinh Thoại M1, sinh ngày 17/6/2016. Ly hôn:

- Giao con chung là cháu Lê Anh T, sinh ngày 26/7/2009 cho ông Lê Văn H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung là cháu Lê Anh T đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình

- Giao con chung là cháu Lê Đinh Thoại M1, sinh ngày 17/6/2016 cho bà Đinh Thị Thanh M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung là cháu Lê Đinh Thoại M1 đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bà Đinh Thị Thanh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 1145 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Đinh Thị Thanh M có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn ông Lê Văn H1 vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Thống Nhất,
  • thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
  • (GCNKH số 65 ngày 16/7/2009);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị Thanh M - Lê Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger